Hội Ái-Hữu Kỹ-Sư Công-Chánh khóa 7
Thơ văn tuyển-tập


Mục-lục

1. Cơm nhà cơm chợ

2. Chồng ơi là chồng

3. Cõng mẹ

4. Qua cầu Mỹ-thuận nhớ mênh-mang

5. Ở Việt-Nam tôi cũng được nghe minh họa Kiều của nhạc-sĩ Phạm-Duy

6. Chuyện một cái đánh rấm

7. Những vần thơ TTKH

8. Mẫu tử của Thu-Nguyệt

9. Mùa Vu-Lan của Trần-Trung Ðạo

10. Chị Cả Bống của Phạm-Lưu-Vũ

11. Họp mặt đầu Xuân Paris 2005 của Nguyễn-văn-Thu

12. Một thoáng hương xưa của Uyên-Hạnh

13. Thời của thánh thần

Cơm nhà cơm chợ

Thế sự đua nhau nói chịu chơi,
Biết ai là chịu, biết ai chơi,
Chơi mà "no" địa là chơi chịu,
Chịu đấm "no" tiền ấy chịu chơi.

Cao-Minh-Lý sưu tầm



Chồng ơi là chồng

3 bà X 7 chuyện = 21 điều vô

Không chồng là vô phước
Dụ chồng hàng xóm là người vô lương
Có chồng mà không con là vô hậu
Con chồng, mẹ ghẻ là kẻ vô tâm
Chồng cờ bạc : có số vô sản
Chồng nghiện ngập hút sách thì nợ nần vô tận
Chồng mang bệnh lậu (AIDS) là vô phương cứu chữa
Chồng theo vợ bé là phận gái vô duyên
Chồng bỏ đi tu là vô vi tiền kiếp
Chồng bê tha là chồng vô tích sự
Chồng hành hạ vợ là vô nhân đạo
Chồng mắng vợ- thứ vô liêm sĩ
Chồng lỗ mãng: chồng vô văn hóa
Chồng thô tục : chồng vô giáo dục
Không ngủ chung vói vợ là chồng vô tính (GAY)
Chồng muốm mà vợ không là kẻ vô tình
Vợ muốn mà chồng không thì vô hành lạc
Bỏ chồng mà đi chỉ tổ vô gia (cư)
Chồng làm, vợ tiêu là vô số kể
Chồng tiêu, vợ làm chỉ cịn vô tín dụng (Credit)
Nhưng . . .
Không chồng, không vợ thì đời vô vị phải không?
Võ-ngọc-Khôi sưu-tầm



Cõng mẹ


Huế,
Đà nẵng,
Phú yên,
Rồi Cao nguyên thất thủ .

Bom đạn thù tuôn đổ,
Tiếng súng nổ rung trời,
Chân chạy giặc rã rời,
Xác người rơi lả tả .

Vượt qua đèo Cả,
Xuôi ngả Nha Trang,
Người dân Nam từng lớp từng hàng,
Cố chạy trốn làn sóng tràn địa ngục .

Con lộ máu, hàng vạn người lúc nhúc,
Kẻ lết đi, kẻ ngã gục ven đường .
Tiếng đạn gào dìm tiếng khóc bi thương,
Mù mịt bãi chiến trường không ranh giới .

Những người lính miền Nam trong phút cuối,
Vẫn kiên trì mở lối dẫn dân đi,
Vẫn hiên ngang thép súng vững tay ghì,
Nén phẫn uất, lầm lì xuyên lửa đạn .

Người lính chiến trên bước đường di tản,
Cõng mẹ già lánh nạn, bóng lênh khênh,
Chân thấp cao trên sỏi đá gập ghềnh,
Vành nón lá nhịp nhàng va nón sắt .

Mừng vui lên ánh mắt,
Mẹ hiền buộc chặt trên lưng,
Dù mai đây có gục ngã nửa chừng,
Cũng cùng mẹ được vùi chung nấm mộ .

Lập loè mệnh số,
Đường dài trắc trở mấp mô,
Ngọt ngào nước đục lương khô,
An lòng bữa no bữa đói .

Đoàn quân âm thầm mở lối,
Diệt chốt, bắc cầu,
Khuya sớm dãi dầu,
Đương đầu gió bão .

Đạn dày như châu chấu,
Khói cuộn tựa mây đùn .
Trong tiếng rít lạnh lùng,
Đã thoáng nghe mùi máu .

Đạn tơi màu áo,
Trên xác thân gượng gạo mỏi mòn .
Viên đạn nào cho con,
Viên đạn nào cho mẹ?

Dòng máu từ tim mẹ,
Thấm ướt đẫm lưng con .
Dòng máu từ ngực con,
Nhuộm đỏ bàn tay mẹ .
Viên đạn này cho mẹ,
Viên đạn này cho con .

Nắng tàn lê lết,
Quét lên người những vệt tang thương,
Mẹ con nằm gục chết,
Như cỏ úa bên đường .

Người lính chiến, mắt dường còn mở hé,
Cánh tay quài giữ chặt mẹ sau lưng ,
Trên dung nhan lem luốc bụi núi rừng,
Nét mãn nguyện và đau thương lẫn lộn .

Khuôn mặt mẹ, cuối một đời lận đận,
Phớt hiện lên chút thanh thản an bình,
Vòng tay khô ôm trọn xác con mình,
Đành dang dở cuộc hành trình bi thảm .

Ánh trời chiều ảm đạm,
Vết thương sạm tím màu,
Rã rời từng giọt máu bầm nâu,
Lạc lõng cố tìm nhau trong cát bụi .

Dòng máu trẻ xưa xa rời nguồn cội,
Lang thang đi khắp nửa cõi u buồn,
Trong phút giây sum họp với cội nguồn,
Cùng máu mẹ trào tuôn trên đất lạ .
x
x x
Rồi từ đấy qua bao mùa nắng hạ,
Đường kinh hoàng, cây trổ lá đơm hoa,
Vết máu xưa, mưa nắng đã xóa nhoà,
Tìm đâu thấy dấu can qua ngày trước .

Ngựa xe lũ lượt,
Đêm ngày xuôi ngược đường xưa,
Khách qua lại hững hờ,
Mấy ai còn nhớ đến,
Những ngày tàn cuộc chiến,
Có người lính Cộng Hoà,
Trên lưng cõng mẹ già,
Dặm trường xa tránh loạn,
Dập vùi cơn kiếp nạn,
Đã bỏ mạng bên đường .


Trần Văn Lương
Cali, tháng tư 2002



Qua cầu Mỹ-thuận nhớ mênh mang

Du Trốc Tử

"Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài"
(Huy Cận)


Tôi có hạnnh phúc là được đi một trong những chuyến phà cuối cùng trước khi cầu Mỹ Thuận được phép lưu thông. Nói hân hạnh là vì được ngắm cái mới từ vị trí không gian cũ, để rồi hôm nay đi qua cầu mới, nhìn lại khung trời xưa cũ với ít nhiều nỗi niềm hoài vọng không tên. Trong đời có những cơ may như thế, tưởng không phải dễ! Hai lần đi Bắc, lần đầu qua sông Gianh trên một chuyến phà để ngắm nhìn cầu mới vừa được hợp long. Những đêm đứng bâng khuâng trên nửa nhịp còn lại của cầu Cẩm Lệ, nay nhịp cầu ấy cũng không còn. Những chiếc cầu khỉ bắt ngang những dòng kênh Nam Bộ nay đã mất dần. Rồi những chuyến phà chở đầy kỉ niệm qua bắc Rạch Miễu, Hàm Luông, Cần Thơ, Vàm Cống, Cao Lãnh ở miền Nam, sông Hồng, sông uống, sông Gianh ở miền Bắc cùng những chuyến đò ngang qua Trà Khúc, Vu Gia, Thu Bồn, sông Hương, sông Hoài và sông Hàn vắt ngang qua phố Đà của miền Trung ruột thịt. Hôm nay lại qua cầu Mỹ Thuận, chợt nhớ câu thơ của Hoàng Trúc Ly da diết:
"Tôi đứng bên bờ dĩ vãng
Thương về con nước ngại ngùng xuôi"
Thương về con nước, ôi con nước khi đong đầy phù sa cho những bến bờ hoàng hôn vàng chân cát mịn; ôi con nước khi cạn cùng bùn vẩn để những chuyến đò khuya khoắt nặng gót bùn đen. Con nước có đôi lần chững lại để dân xứ Tháp Mười mênh mang một nỗi cơ hàn ngập lũ. Con nước cũng mấy độ mưa qua cho du tử Ta Bà rưng rưng những niềm nhớ thương tràn cốc. Cũng trên con nước này, một đêm trăng thanh gió mát, dăm người bạn tâm đầu chèo thuyền hứng sương đổ ấm nấu trà, vỗ mạn thuyền mà ngâm thơ Tô Đông Pha trên dòng Xích Bích thuở nọ:
"Quế trạo hề lan tương
Kích không minh hề tố lưu quang
Diễu diễu hề dư hoài
Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương"
Người xưa thường nói: "Trà tam tửu tứ du hành nhị". Nhưng có một du tử vẫn thường độc hành qua những bến bờ sơn thủy. Soi bóng mình qua đáy nước, noi chí Thánh tự trời cao, để cảm hết được nỗi cô đơn cùng cực và niềm yêu vô bờ giữa trần gian nhập nhòa mộng thực. Cũng trên con nước này mới cảm hết được câu thơ của Hàn Mặc Tử:
"Mây chết đuối giữa dòng sông vắng lặng
Trôi thây về xa tận cõi vô biên."
Cũng trên con nước này mới uống hết được ngụm Tràng Giang của Huy Cận:

"Củi một cành khô lạc mấy dòng"
hay :

"Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng."
Tôi không biết Huy Cận viết bài Tràng Giang ở đâu. Một thi nhân miền Bắc thời tiền chiến nhưng hình ảnh của "Tràng Giang" lại là hình ảnh của Cửu Long Giang. Nếu không phải Huy Cận lấy hình ảnh từ một Mịch La của Khuất Nguyên, một "Yên ba giang thượng" của Thôi Hiệu, một Xích Bích của Tô Đông Pha, Trường Giang Tam Hiệp của những thi nhân Đường Tống hay sông Dương Tử qua cái nhìn của nữ văn sĩ Mỹ Pearl Buck, thì hình ảnh ấy phải là của Cửu Long Giang. Sông nước miền Bắc và miền Trung Việt Nam hẳn không có "Tràng Giang" như thế.
"Lòng quê dờn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nha."
T�n Đà dịch hai câu thơ cuối của "Hoàng Hạc Lâu" tuyệt bút đến đâu cũng không thể sánh với con nước dờn dợn của Huy cận giữa chiều hôm bảng lảng. Bà Huyện Thanh Quan nhìn thấy "Gác mái ngư ông về viễn phố", không gian còn nhỏ lắm. Chỉ có "Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa" của Huy Cận mới làm cho hồn hoang của hoàng hôn trĩu nặng. Có một ca từ của Trịnh Công Sơn có thể sánh với câu thơ này về hình ảnh: "Con diều rơi cho vực thẳm buồn theo" ("Tôi ơi đừng tuyệt vọng"). Nhưng nỗi buồn của người họ Trịnh đầy hiện sinh và bi đát, còn nỗi buồn của Huy Cận mới là nỗi buồn của tình tự quê hương. Thơ không còn đủ nuôi người ta sống, nhưng thơ cp1 thể nuôi người ta lớn. Cảm thức đọng lại trong thơ từng được chắt chiu qua bao bến bờ đi đến, để hôm nay đứng trên cầu Mỹ Thuận còn thương biết mấy chuyến phà xưa.

Cũng trên chuyến phà này, một cô bé bán hàng rong nhất định không chịu lấy tiền gói xôi biếu người xa lạ - đời ơi, còn những tấm lòng. Cũng trên chuyến phà này, gã ăn mày ngưng đàn ngả nón cầu xin chút tình du tử - móc túi ra toàn bản thảo thơ. Cũng trên chuyến phà này, có một bà mẹ đi tìm con trên vạn ngã đời. Gặp nhau ngấn lệ lưng tròng: " Về thôi con!". "Không mẹ ạ! Con phải đi, thế nào rồi cũng có ngày về.". Rồi cùng trên chuyến phà này, mười năm sau nghe tin mẹ mất - nước sông Hoài sao chảy mãi về Đông? (1). Nước sông ngàn đời chảy trôi ra biển, mà nỗi lòng này sao chưa thấy chảy về đâu?

Ngày xưa qua bắc Mỹ Thuận, có lúc kẹt phà phải đợi đến ba tiếng đồng hồ. Ngày nay cầu Mỹ Thuận đã thành chiếc cầu hiện đại nhất ở Việt Nam. Xe phù qua trong mấy phút. Một lần được đứng lại bên cầu, làm sao khỏi miên man nhớ về những chuyến phà xưa cũ? Người ta thường nói: "nhịp cầu nối những bờ vui". Còn đối với tôi thì : "nhịp cầu giã từ những khung trời xưa cũ". Không phải hoài cựu là phản đối cái mới. Cầu Mỹ Thuận ngày nay là chiếc đòn gánh gánh cả nền kinh tế lưu vực đồng bằng sông Cửu Long. Điều ấy là vô cùng cần thiết. Sự tiến bộ bao giờ cũng cần thiết, nhưng nó cũng không hề cản ngăn tôi tiếc nhớ những gì đã qua, đã nuôi tôi lớn lên nhiều năm tháng. Như đồi Cù Đà Lạt từ ngày bán cho Tây làm sân golf chẳng hạn, làm sao khiến tôi khỏi nhớ về những chiều sương ám phủ trên triền đồi tím ngát dặm lữ thu xưa. Nghe đâu mai mốt chuyến phà Rạch Miễu cũng không còn khi dự án bắt cầu qua tỉnh Bến Tre đã trở thành khả thi trong vài năm tới. Con người có thể làm được nhiều chuyện to tát như thế, nhưng chiếc cầu lại là nhân chứng bi tráng nhất cho chuyện vật đổi sao dời. Thương hải tang điền đã ghi dấu ấn hằn lên trang văn học sử thế giới. Tôi nhớ nhịp cầu Hawaii do những tù binh Anh thi công hồi chiến tranh phát xít Nhật, rồi cũng chính họ giật sụp chiếc cầu này khi một chiếc xe lửa đi ngang. Nhịp cầu trên sông Drina của Ivo-Andritch còn in đậm trong hồn tôi còn hơn những biến cố chiến tranh thế giới. Bao nhiêu đời rồi người lái đò ước ao một chiếc cầu bắt ngang dòng sông định mệnh, để rồi chiếc cầu cũng được biến thành nhân chứng của mọi sự biến thiên: chiến tranh, tình yêu, lẽ sống, nỗi chết. Để một lần người nghệ sĩ dừng lại bên cầu nhớ chuyến đò xưa. Hạnh phúc và đau khổ đều cần thiết cho cuộc đời, cho những ai biết nghe ra giai điệu luân lưu của tồn sinh vạn hữu.

Tôi xuống xe lội bộ qua cầu Mỹ Thuận tuyệt đẹp từ phía Vĩnh Long qua bên Tiền Giang thơ mộng. "Nắng chia nửa bãi chiều rồi" (Huy Cận), "Con cò trên ruộng cánh phân vân" (Xuân Diệu). Vẫn chiếc nâu sòng sạm vạt, tôi ngâm tràn mấy câu thơ của Hoài Khanh mà thấy lòng bịn rịn quá đi thôi:

"Rồi em lại ra đi như đã đến
Dòng sông kia cứ vẫn chảy xa mu
Ta ng�i lại bên cầu thương dĩ vãng
Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu".
Quý Đông Tân Tỵ.

DTT.

(1): Trong bài "Hỏi nước sông Hoài"(Vấn Hoài thủy) của Bạch Cư Dị viết:
"Tự ta danh lợi khách
Nhiễu nhiễu tại nhân gian
Hà sự trường Hoài thủy
Đông lưu diệc bất nhàn"


Ở Việt-Nam, tôi cũng được nghe minh-họa Kiều của nhạc-sĩ Phạm-Duy


Tôi là một người yêu nhạc của Phạm Duy từ hồi còn rất bé. Đã hơn thế kỷ trôi qua, ở Việt Nam, dù những ca khúc do ông soạn hoàn toàn cố tình "bị vắng bóng" trên các phương tiện thông tin đại chúng như radio, TV, báo chí. nhưng trong các quán nhạc hay phòng trà, trong các gia đình, âm nhạc của ông vẫn còn, người ta vẫn nghe, vẫn thuộc, vẫn chép lại lời nhạc và quảng bá cho nhau.
Năm nay nhạc sĩ Phạm Duy đã 81 tuổi. Ông là một nhân vật có "tài nghệ siêu quần" hay là "võ nghệ tuyệt luân" của đất nước Việt Nam trong lãnh vực nghệ thuật. Người ta đã viết và đã nói về ông quá nhiều, tôi mường tượng hình như nhạc sĩ Phạm Duy là người đã để cho "chảy nhiều mực và tốn nhiều giấy" nhất trong lịch sử văn hóa nghệ thuật của nước Việt Nam đương đại.
Ở Việt Nam, tôi cũng có nghe ngóng và theo dõi từng "đường đi nước bước" của nhạc sĩ Phạm Duy ở nước ngoài (điều mà từ năm 1975 đến giờ tôi vẫn làm). Tôi chờ đợi từng ngày Minh Họa Kiều II ra mắt như lời ước hẹn của ông khi Minh Họa Kiều I xuất hiện cách đây vài năm. Những nhạc khúc ông viết ra ở bên kia quả địa cầu, chắc ông cũng không ngờ rằng ở quê nhà có nhiều người âm thầm đi tìm kiếm, sưu tầm, gìn giữ quý giá tưởng như không gì còn quý hơn thế nữa. Tôi là một trong số rất nhiều người Việt Nam ở quốc nội đã làm công việc đó.
Theo tôi, nhạc sĩ Phạm Duy có lẽ đã "thai nghén" chủ đề "Kiều" từ lâu lắm rồi, dễ đến hơn nửa thế kỷ, chứ không phải chỉ gần đây ông mới có ý định "kết thúc sự nghiệp" âm nhạc vĩ đại của mình bằng Minh Họa Kiều đâu. Từ những ngày nào xa xưa lâu lắm, trong những ca khúc của ông, ông thường nhắc đến "Kiều" và "yêu Nguyễn Du" nhiều bằng hoặc nhiều hơn bất cứ ai ở nước Việt Nam. Như trong bài Tình Ca bất hủ của ông, viết năm 1953, bài hát mà nhiều người rất thuộc:
Tôi yêu tiếng nước tôi
Từ khi mới ra đời người ơi
Mẹ hiền ru những câu xa vời
À à ơi tiếng ru muôn đời
.
Một yêu câu hát truyện Kiều
Lẳng lơ như tiếng sáo diều làng ta
Và yêu cô gái bên nhà
Miệng xinh ăn nói mặn mà (mà lại) có duyên.
(TÌNH CA - 1953)
Ông kể rằng ngày xưa hồi còn thơ ấu, những lời ru êm ái nhất ông nghe từ người mẹ là những "tiếng ru muôn đời" của nước Việt Nam, trong đó phần lớn là những câu thơ "Kiều ru" tuyệt diệu in sâu đậm nét trong lòng ông: "thoắt ngàn năm thành tiếng lòng tôi.". Thành thử về sau, khi soạn Kiều Ca, ông đã nhiều lần nhắc đi nhắc lại: ". tôi vẫn không quên mình là người Việt Nam.". Cũng có lần nhạc sĩ Phạm Duy viết trong báo Nghệ Thuật, số 6, xuất bản năm 1966 tại Sài Gòn, những cảm nhận của ông về tiếng lòng say sưa, tha thiết, thành khẩn với mình với người của nàng Vương Thúy Kiều qua ngón đàn tài tình của người "đệ nhất ca kỹ" mà ta tin chắc rằng đó cũng chính là tiếng lòng của ông: ". Tôi chỉ cho rằng mình đã tiếp nhận được của Nguyễn Du một thông điệp : nhạc của nàng Kiều buồn lắm, làm đứt ruột người và đau lòng mình : nhạc Kiều làm nao nao lòng Kim Trọng, làm say lòng Hoạn Thư, làm tan nát lòng Thúc Sinh, làm Hồ Tôn Hiến phải chau mày rơi lệ. Và cho đến khi nhạc Kiều hết sầu thảm và trở nên vui vẻ thì. hết truyện Kiều : sau khi tái ngộ người yêu, và thể theo lời yêu cầu của Kim Trọng, trình diễn xong một khúc nhạc vui, nàng Kiều cuốn dây đàn lại, hứa từ này xin chừa không đánh đàn buồn nữa. Nguyễn Du còn dạy tôi thêm điều này : Kiều đánh đàn cho người yêu nghe, cho kẻ thù hay cho người nắm quyền lực nghe. cũng đều trình diễn với một tấm lòng say mê, tha thiết, thành khẩn với mình, với người. Ngoài ra, ta còn nhận thấy rằng, trong truyện Kiều, kẻ sĩ, nhà buôn, quan lại, thích tài đánh đàn của Kiều và họ thích nghe âm nhạc. Còn vị võ tướng họ Từ, trong suốt thời gian ở với Kiều, không một lần nào muốn làm Chung Tử Kỳ như Kim Trọng, muốn hỏi đến nghề trúc tơ và bắt dạo đàn cho Thức Sinh nghe như Hoạn Thư, hoặc muốn ép nàng vặn trục đàn như Hồ Tôn Hiến. Trượng phu khi xưa không ưa nghe nhạc buồn chăng? Vậy mà ông phải chết đứng! Tội nghiệp!
Ta vẫn có thể nghiên cứu truyện Kiều để tin vào thuyết định mạng, nhưng ta cũng có thể tin rằng thân phận nàng Kiều sẽ không đến nỗi quá bi đát nếu tiếng đàn của nàng đầm ấm từ khi mới gặp Kim Trọng.". (KHÓC CƯỜI THEO MỆNH NƯỚC - Nghệ Thuật số 6/1966 - Phạm Duy)
Rồi như trong bài Bình Ca 6 Ru Mẹ, viết năm 1973, ở đoạn điệp khúc ông đã vẽ lên một hình ảnh rất thanh bình, rất giàu chất thơ, là đứa con Hòa-Bình-Hai-Mươi-Tuổi-Việt-Nam hát ru bà mẹ Chiến-Tranh-Năm-Mươi-Tuổi-Việt-Nam bằng những câu thơ Lục Bát tuyệt vời của Nguyễn Du, của Việt Nam, mà ông gọi đó là những "câu thơ, vần thơ hòa bình":
. Mẹ năm mươi tuổi chiến tranh
Con hai mươi tuổi hòa bình về chơi
Từ lâu súng nổ vang trời
Hôm nay in lặng cho đời ngẩn ngơ.
. Mẹ tôi giấc ngủ khó khăn
Xưa nay ru mẹ toàn bằng đạn bom
Mẹ ơi giấc ngủ muộn màng
Con xin ru mẹ một ngàn lời ru
Ẩu ơ tiếng hát Nguyễn Du
Vần thơ Sáu Tám hát cho hòa bình
Ẩu ơ tiếng hát Nguyễn Du
Vần thơ Sáu Tám hát cho hòa bình.
(BÌNH CA 6 RU MẸ - 1973)
Nhạc sĩ Phạm Duy đã rất am tường về cách thức người bình dân Việt Nam "sống" với truyện Kiều trong sinh hoạt hàng ngày, như trong cuốn Đặc Khảo Về Dân Nhạc Ở Việt Nam do ông soạn (NXB Hiện Đại - Sài Gòn năm 1972) có đoạn viết: ". Truyện Kiều đã tạo nên một lối ngâm hay kể Kiều. Khi không ngâm cả một truyện thơ mà chỉ kể lại một vài đoạn, người ta gọi lối trích truyện thơ ra để ngâm như vậy gọi là lẩy. Ngâm Kiều hay kể Kiều hay lẩy Kiều thì vẫn dùng ngũ cung nhưng có hai nét nhạc: một chạy trên bộ do re fa sol la, một chạy trên bộ re fa sol la do." Rõ ràng nhạc sĩ Phạm Duy đã "ưu tư" rất nhiều về truyện Kiều, ông yêu truyện Kiều, ông thuộc truyện Kiều và hằng ngày ông nghiền ngẫm Kiều, thảng hoặc có lúc nào rảnh rỗi biết đâu ông cũng ngâm nga "lẩy Kiều" hay "bói Kiều" như bao người bình dân Việt Nam khác? Vả lại nếu như ông không thuộc không yêu truyện Kiều, thì làm sao ông soạn nhạc cho Kiều được, vì như ai ai cũng biết, lề lối làm việc của ông rất nghiêm túc, kỹ lưỡng, cẩn thận, nhất là đối với một tác phẩm lớn của dân tộc Việt Nam là Kim Vân Kiều của cụ Nguyễn Du? Đến năm 1977 ông lại nhắc đến truyện Kiều một lần nữa trong Nguyên Vẹn Hình Hài:
. Ai có về biển dài cát rộng
Nơi công dân nào cũng làm thơ
Tôi hết thuộc lời vàng châu ngọc
Xin ru tôi nghe truyện Kiều xưa.
Quê hương tôi thi vị đầy trời
Con tim tôi luôn được đầy vơi.
(NGUYÊN VẸN HÌNH HÀI - 1977)
Ông có ý nói rằng ở quê hương Việt Nam ai cũng yêu truyện Kiều và vì vậy người dân Việt Nam rất thích và rất thành thạo niêm luật dễ dàng dễ hiểu của thể thơ Lục Bát nên ai ai cũng làm thơ được. Thật đúng quá! Gần đây, vừa nghe nói ông đã cho ra mắt Minh Họa Kiều II ở nước ngoài, cũng như cách đây vài năm Minh Họa Kiều I đã được nhà báo Hoàng Phủ Ngọc Tường viết khen ngợi trên tờ Tạp Chí Ấm Nhạc Số 2 - 1998 phát hành tại Sài Gòn có tựa là Đêm Nghe Kiều Ca Tại Paris. Tuy ở cách xa Sài Gòn vài trăm cây số, nhưng tôi cũng đã cố đi lùng kiếm và may mắn đã tìm được đĩa CD tác phẩm mới nhất này của ông. Minh Họa Kiều II gồm có 11 bài, đó là : Người Đâu Gặp Gỡ - Lơ Thơ Tơ Liễu - Cách Tường Một Buổi - Biết Đâu Hợp Phố - Đá Biết Tuổi Vàng - Hán Sở Tranh Hùng - Tư Mã Phượng Cầu - Này Khúc Kê Khang - Chiêu Quân Cống Hồ - Càng Tỏ Hương Nồng - Trăng Thề Còn Đó. Bài nào nét nhạc cũng lạ, cũng hay, được thể hiện qua giọng ngâm trong vắt, tuyệt vời, giàu biểu cảm của Thanh Ngoan, Thảo Hiền và được trình bày bởi những giọng ca thượng thặng, sang trọng nhất, quý phái nhất của cộng đồng Việt Nam của cả quốc nội, quốc ngoại hiện nay, đó là Ái Vân, Duy Quang, Tuấn Ngọc, Thái Hiền, Thái Thảo. Ngòai ra, còn phải kể đến tài nghệ hòa điệu phối khí của nhạc sĩ Duy Cường - đã quyết định phần lớn sự thành công của nhạc phẩm - làm người nghe rất lấy làm lạ lùng thích thú vì chỉ có. một mình nhạc sĩ Duy Cường mà thôi (có lẽ phải kể thêm giàn máy computer cao cấp nữa), nhưng những nhạc cụ dân tộc như đàn tranh, đàn bầu, đàn nhị, đàn nguyệt, tam thập lục, sáo trúc, song loan, chiêng, trống v.v. lại được sử dụng rất điệu nghệ và hòa quyện với nhau một cách tự nhiên, hài hòa, rất trau chuốt, điêu luyện và rất công phu, rất gây ấn tượng, để tạo nên hình ảnh gần như thực thấy, đúng với ý nghĩa của hai chữ "minh họa". Nhạc sĩ Phạm Duy đã soạn Minh Họa Kiều khi đang ở nước ngoài. Đó là một sự kiện đáng phải trân trọng. Vì rằng ngay ở trong nước, hiện nay nhiều nhà phê bình âm nhạc đang lên tiếng cảnh báo về hiện tượng âm nhạc có chiều hướng lai căng, mất gốc, xa dần "cội nguồn dân tộc". Vậy mà ở nước ngoài, chỉ có một mình nhạc sĩ Phạm Duy, đơn độc ông "trở về nguồn" bằng một tác phẩm lớn, lớn như cái tâm của ông, như ngày nào ông viết Trường Ca Con Đường Cái Quan hay Trường Ca Mẹ Việt Nam vậy. Ông nhắc nhở tất cả mọi người Việt Nam rằng xin hãy nhớ mình vẫn là người Việt Nam dù đang sinh sống ở đâu trên khắp thế giới, rằng vẫn còn có nguồn cội để mà tìm về, rằng vẫn còn đó truyện Kiều bất hủ của thi hào Nguyễn Du, để mà ngâm, để mà lẩy, để mà vịnh, để mà bói, và bây giờ, nhờ nhạc sĩ Phạm Duy, còn để mà hát nữa. Nhạc sĩ Phạm Duy đã soạn Minh Họa Kiều khi ông đã 80 tuổi. Đây là một hiện tượng rất đáng khâm phục. Ở vào cái tuổi "đã nghe gần gũi nhạc thiều âm ty" (Tình Thu - Phạm Duy) mà ông vẫn còn có đủ trí lực và sức khỏe để viết, và viết cho tới-nơi-tới-chốn như Minh Họa Kiều I & II thì quả là hiếm có lắm. Mấy người được như ông? Tôi nhớ có một bài viết của nhà thơ Nguyên Sa có tựa : Phạm Duy - Đại Lực Sĩ cách đây gần 10 năm, không ngờ sau 10 năm "danh hiệu" đó dành cho ông vẫn còn nguyên: nhạc sĩ Phạm Duy vẫn còn là "lực sĩ" cả trong thể trạng và trí tuệ. Thật là mừng sao, vì nhờ vậy mà hôm nay chúng ta mới còn được nghe Minh Họa Kiều I và II của ông. Ở Việt Nam, tôi cũng đã được nghe Minh Họa Kiều của nhạc sĩ Phạm Duy.
Tôi rất vinh dự được làm một người Việt Nam và biết yêu Phạm Duy.

ĐỖ HÙNG
(Bình Thuận - Việt Nam - 23/1/02)


Chuyện một cái đánh rấm


Tô Đông Pha, một thi hào đời nhà Tống vốn là một bậc uyên bác về Phật học. Ông thường qua bên kia sông Dương Tử và kết giao với sư Pháp Diễn để luận đàm Phật Pháp.
Một ngày kia, khi Tô Đông Pha chèo thuyền sang sông thăm bạn thì sư Pháp Diễn đi vắng. Ngồi một mình trong thư phòng chờ bạn, không có việc gì làm, Tô Đông Pha bèn lấy giấy bút làm một bài thơ có ý cho rằng mình đã thông hiểu tất cả Phật Pháp và tám ngọn gió chướng của thế gian không thể nào làm tâm mình lay động được. Làm xong bài thơ, Tô Đông Pha rất đắc ý để trên bàn của sư Pháp Diễn và chèo thuyền ra về.
Khi sư Pháp Diễn về đến am, đọc được bài thơ bèn lấy bút ghi thêm phía dưới mấy chữ cho rằng bài thơ khoác lác, ý nghĩa không bằng một c�i đánh rắm của sư. Rồi bảo đạo đồng đem trả bài thơ cho vị thi sĩ họ Tô.
Nhận được bài thơ với những dòng chữ của sư Pháp Diễn, Tô Đông Pha giận quá bèn xuống ngay thuyền, vượt qua sông tìm đến sư Pháp Diễn. Vừa bước vào am, Tô Đông Pha chụp tay sư Pháp Diễn mặt đỏ rần và hét lớn:
- Sư là hạng người gì mà dám ăn nói với tôi như thế? Tôi là một Phật Tử trung thành với đạo pháp. Sư đã biết tôi từ lâu rồi mà. Tại sao sư lại có thể mù quáng và ăn nói hồ đồ đến như vậy?
Sư Pháp Diễn bình tĩnh nhìn bạn mỉm cười đáp:
- À! Thì ra huynh là đại thi hào Tô Đông Pha, người Phật Tử vĩ đại tinh thông giáo lý và đã tuyên bố rằng tâm không hề lay chuyển trước tám ngọn gió chướng của cuộc đời. Thế mà chỉ vì một cái đánh rắm của ta mà người đã bị thổi bay từ bên kia sông sang đến tận bờ bên nầy. Lạ thật lạ thật!
Võ-ngọc-Khôi sưu tầm



Những vần thơ TTKH

Bài thơ thứ nhất



Thuở ấy lòng tôi thơ thới quá
Hồn thơ nguyên vên một trời hương
Nhưng nhà nghệ sĩ từ đâu lại
Êm ái trao tôi một vết thương

Tai ác ngờ đâu gió lại qua
Làm kinh giấc mộng những ngày hoa
Thổi tan âm điệu du dương trước
Và tiển người đi bến cát xa

Lại ở vườn Thanh có một mình
Tôi yêu gió lạnh lúc tàn canh
Yêu trang lặng lẽ rơi trên áo
Yêu bóng chim xa nắng lướt mành

Và một ngày kia tôi phải yêu
Cả chồng tôi nữa lúc đi theo
Những cô áo đỏ sang nhà khác
Gió hỡi làm sao lạnh rất nhiều

Từ đấy không mong không dám hẹn
Một lần gặp nữa dưới trăng nghiêm
Nhưng tôi vẫn chắc nơi trời lạ
Người ấy ghi lòng vẫn nhớ em

Ðang múc lòng tôi muốn tạm yên
Thì ai đem lại cánh hoa tim
Cho tôi ép nốt dòng dư lệ
Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên

Ðẹp gì một mảnh tình tan vỡ
Ðã bọc hoa tàn dấu xác xơ
Tóc úa giết dần đời thiếu phụ
Thì ai trông ngóng chẳng nên chờ

Viết đoạn thơ đầu lo ngại quá
Vì tôi vẫn nhớ hẹn ngày xưa
"Cố quên đi nhé câm và nín
Ðừng thở than bằng những giọng thơ "

Tôi run sợ viết lặng im nghe
Tiếng lá thu khô xiết mặt hè
Tưởng tượng chân người len lén đến
Nhưng lòng nào dám hẹn ai về

Tuy thế tôi tin vẫn có người
Thiết tha đeo đuổi mãi than ôi
Biết đâu tôi một tâm hồn héo
Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi


Bài thơ cuối cùng


Anh ạ, tháng ngày mau quá nhỉ !
Một mù thu cũ một lòng đau
Ba năm ví biết anh còn nhớ
Em đã câm lời có nói đâu

Ðã lỡ thôi rồi chuyện biệt ly
Càng khơi càng thấy lụy từng ly
Trách ai đem cánh "ti-gôn" ấy
Mà viết tình em được ích gì ?

Chỉ có ba người đọc thơ riêng
Bài thơ "đan áo " của chồng em
Bài thơ đan áo nay rao bán
Cho khắp người đời thóc mách xem

Là giết đời nhau đấy biết không ?
Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung
Giận anh tôi viết dòng dư lệ
Là chút dư hương điệu cuối cùng

Từ nay anh hãy bán thơ anh
Và để yên tôi với một mình
Những cánh hoa lòng, hừ đã ghét
Thì đem mà đổi lấy hư vinh

Ngang trái đời hoa đã uá rồi
Từng mùa gió lạnh sắc hương rơi
Buồng nghiêm thơ thẩn hồn eo hẹp
Ði nhớ người, không muốn nhớ lời

Tôi oán hờn anh mỗi phút giây
Tôi run sợ viết bởi rồi đây
Nếu không yên được thì tôi chết
Ðêm hỡi, làm sao tối thế nầy ,

Năm lại, năm qua cứ muốn yên
Mà phương trời nhớ chẳng làm quên
Và người vỡ lỡ duyên thầm kín
Lại chính là anh, anh của em

Tôi biết làm sao được hỡi trời !
Giận anh không nỡ nhớ không thôi
Mưa buồn mưa hắt trong lòng ướt
Sợ quá đi anh, có một người...


Ðan áo cho chồng


Chị ơi nếu chị đã yêu
Ðã từng lỡ hát ít nhiều đau thương
Ðã xa hẵn quãng đời hương
Ðã đem lòng gởi gió sương mịt mù

Biết chăng chị, mỗi mùa Ðông
Ðáng thương những kẻ có chồng như em
Vẫn còn thấy lạnh trong tim
Ðan đi đan lại áo len cho chồng

Như con chim hót trong lồng
Hạt mưa đã rụng bên sông bơ thờ
Lưng trời nổi tiếng tiêu sơ
Hay đâu gió đã sang bờ ly tan

Tháng ngày miễn cưỡng em đan
Kéo dài một chiếc áo len cho chồng
Như con chim hót trong lồng
Tháng ngày thương tiếc cánh hồng nơi nao

Ngoài trời hoa nắng xôn xao
Ai đem khóa chết chim vào lồng nghiêm
Ai đem lễ giáo giam em
Sống hờ trọn kiếp trong duyên trái đời

Lòng em buồn lắm chị ơi !
Trong bao ngờ vực với lời mỉa mai
Quang cảnh lạ, tháng ngày dài
Ðêm đêm nghĩ đến ngày mai giật mình.


Hai sắc hoa ti-gôn


Một mùa Thu trước mỗi hoàng hôn
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc
Tôi chờ người đến với yêu đương.

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi
Thở dài trong lúc thấy tôi vui
Bảo rằng "Hoa giống như tim vỡ,
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi"

Thuở ấy nào tôi đã hiểu gì
Cánh hoa tan tác của sinh ly
Cho nên cười đáp "Màu hoa trắng,
Là chút lòng trong chẳng biến suy"

Ðâu biết lần đi một lỡ làng
Dưới trời gian khổ chết yêu đương
Người xa xăm quá tôi buồn lắm
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường

Từ ấy thu rồi thu lại thu
Lòng tôi còn giá đến bao giờ
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
Người ấy cho nên vẫn hững hờ

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi
Mà từng thu chết từng thu chết
Vẫn giấu trong tim bóng một người

Buồn quá hôm nay xem tiểu thuyết
Thấy ai cũng ví cánh hoa rơi
Nhưng hồng tựa trái tim tan vỡ
Và đỏ như màu máu thắm phai

Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
Một mùa thu cũ rất xa xôi
Ðến nay tôi hiểu thì tôi đã
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi

Tôi sợ chiều thu nắng phớt mờ
Chiều thu hoa đỏ rụng chiều thu
Gió về lạnh lẽo chân mây vắng
Người ấy bên sông đứng ngóng đò

Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng
Trời ơi ! người ấy có buồn không
Có thầm nghĩ đến loài hoa vỡ
Tựa trái tim phai tựa máu hồng ?



Mẫu tử
của Thu-Nguyệt

Ngày mẹ mất bông cà na rụng trắng
Hoa như mưa nhòe nhoẹt rối tơi bời
Trong nắm đất con phủ lên mộ mẹ
Có rất nhiều những cánh hoa rơi

Hoa cũng như đời mẹ, mẹ ơi
Nở lặng lẽ và rơi lặng lẽ
Cô đơn nào hơn những người mẹ trẻ
Con chưa đủ lớn khôn để chia sẻ vui buồn

Lời ru buồn len lén hoàng hôn
Hai mươi năm sau đời con mới hiểu
Nỗi cô đơn mẹ âm thầm gánh chịu
Nhiều như bông cỏ dại quê mình

Giờ con cười bên những đứa con xinh
Nghe nước mắt chảy vào trong lặng lẽ
Bông cà na vẫn trắng tinh như thế
Nỗi cô đơn vùi xuống đất muôn đời

Ngày mẹ mất bôn g cà na rụng trắng
Hoa như mưa nhòe nhoẹt rối tơi bời
Trong nắm đất con phủ lên mộ mẹ
Có rất nhiều những cánh hoa rơi

Ngắm con thơ con thầm gọi mẹ ơi
Nhìn lên vách con khóc cùng với bóng
Mưa tí tách êm đềm như tiếng xưa
Mẹ bây giờ mới hiểu mẹ ngày xưa.
Mùa Vu Lan, Nghĩ Về Mẹ Và Quê Hương
của Trần-Trung Ðạo

Một danh ngôn mà chúng ta thường nghe "thế giới có rất nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt vời và vĩ đại nhất vẫn là người mẹ". Thật vậy, bao nhiêu thơ viết về mẹ cũng không đủ, bao nhiêu nhạc hát về mẹ cũng không vừa. Biển Thái Bình bao la, nước sông Hằng cuồn cuộn nhưng không sao có thể so sánh được với tấm lòng của mẹ. Bản nhạc nào viết về mẹ cũng hay, bài thơ nào viết về mẹ cũng cảm động bởi vì ngôn ngữ dành cho mẹ là ngôn ngữ của trái tim.

Mẹ là biểu tượng trọn vẹn và tuyệt đối của tinh thần Chân Thiện Mỹ. Nếu có một người để chúng ta có thể san sẻ những điều thầm kín, riêng tư nhất, thì người đó phải là mẹ. Nếu có một người có thể tha thứ cho chúng ta dù phạm phải bất cứ một lỗi lầm gì, người đó sẽ là người mẹ. Tôi tin, nếu chúng ta biết dành ý nghĩ đầu tiên của một ngày, thay vì để nghĩ đến chuyện hơn thua, danh lợi nhưng là để nghĩ về mẹ, nghĩ về khuôn mặt của mẹ, tiếng cười của mẹ, lời dặn dò của mẹ hay thậm chí chỉ để gọi tiếng mẹ thôi, chúng ta sẽ có một ngày an lành và hạnh phúc.

Mẹ là người mang ta đến cuộc đời, và cũng là nơi ta trở về. Người đàn bà chân mang đôi dép ngược, khoác chiếc mền rách, như trong một câu chuyện thiền mà chúng ta có thể đã từng nghe kể, dù bao mùa mưa nắng vẫn không than van, không oán trách, vẫn chờ đợi ngày về của đứa con mải mê trên đường đi tìm chân lý. Nếu chân lý mà chàng trai trẻ kia đi tìm là tình thương và sự thật thì chân lý sẽ không ở đâu xa mà trái lại vô cùng gần gũi. Trong tấm thân gầy yếu nhỏ nhoi của người mẹ chứa đựng cả một đại dương của hy vọng, tình yêu, sự thật và lòng vị tha sâu thẳm.

Hơn mười năm trước, tôi có viết một bài thơ về mẹ, trong đó có hai câu đã trở thành quen thuộc:

Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.


Bài thơ ra đời trong một đêm mưa, sau lần điện thoại đầu tiên với mẹ tôi từ Việt Nam. Giọng của mẹ như vọng lại từ một thế giới khác xa xôi. Tôi viết rất nhanh, nhanh hơn khi viết những bài thơ khác nhiều. Những dòng chữ, những câu thơ đúng ra là từ mơ ước, thao thức đã ấp ủ trong tâm thức tôi từ lâu lắm, chỉ chờ dịp để tuôn ra. Tôi không làm thơ, tôi chỉ chép như có một người nào đang nhắc nhở bên tai mình. Nguyên văn bài thơ như thế này:
Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi

Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương

Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao với
Biết đến bao giờ trông thấy nhau

Đừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ
Đau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.


Bài thơ đơn giản và dể hiểu, không có gì phải cần bình giải. Tất cả chỉ để nói lên tâm trạng của một người con xa mẹ, bay đi như chiếc lá xa cành, mười năm chưa về lại cội. Năm tôi viết bài thơ, mẹ tôi, đã ngoài 60 tuổi và đang sống trong căn nhà tôn nghèo nàn ở Hòa Hưng Sài Gòn. Căn nhà nhỏ có giàn hoa giấy đó là nơi tôi đã sống 8 năm.

Nhớ lại đêm cuối cùng ở Sài Gòn, tôi đón xe xích-lô từ cửa sông về chào mẹ. Trời mưa lớn. Nhưng khi gặp mẹ, với tâm trí ngàn ngập những lo âu, hồi hộp cho chuyến đi, tôi không kịp nói một câu cho trọn vẹn ngoài ba tiếng "con đi nghe". Và như thế tôi đi, đi không ngoảnh lại, đi như chạy trốn. Để rồi hai ngày sau, khi chiếc ghe nhỏ của chúng tôi được hải quân Mỹ cứu vớt trên biển Đông vào khuya ngày 13 tháng 6 năm 1981, đứng trên boong chiến hạm USS White Plains nhìn về phía Nam, tôi biết quê hương và mẹ đã ngoài tầm tay với của mình. Đời tôi từ nay sẽ như chiếc lá, bay đi, bay đi, chưa biết ngày nào hay cơ hội nào trở về nguồn cội.

Nếu có một quốc gia mà những người dân của quốc gia đó đã phải từ chối chính đất nước mình, từ chối nơi đã chôn nhau cắt rốn của mình, tôi nghĩ, đất nước đó không còn bao nhiêu hy vọng. Việt Nam sau 1975 là một đất nước sống trong tuyệt vọng như thế. Dân tộc Việt Nam những năm sau 1975 là một dân tộc sống trong tâm trạng những kẻ sắp ra đi. Sài Gòn giống như một sân ga. Chào nhau như chào nhau lần cuối và mỗi ngày là một cuộc chia ly. Bắt tay một người quen, ai cũng muốn giữ lâu hơn một chút vì biết có còn dịp bắt tay nhau lần nữa hay không. Gặp người thân nào cũng chỉ để hỏi "Bao giờ anh đi, bao giờ chị đi", và lời chúc nhau quen thuộc nhất mà chúng thường nghe trong những ngày đó vẫn là "Lên đường bình an nhé."

Đất nước tuy đã hòa bình rồi, quê hương đã không còn tiếng súng nhưng lòng người còn ly tán hơn cả trong thời chiến tranh. Đêm cuối ở Sài Gòn lòng tôi ngổn ngang khi nghĩ đến ngày mai. Ngày mai sẽ ra sao? Nếu bị bắt tôi sẽ ở tù như lần trước nhưng nếu đi được thì sẽ trôi dạt về đâu?

Suốt sáu năm ở lại Sài Gòn, tôi chỉ nghĩ đến việc duy nhất là ra đi. Khi chiếc ghe nhỏ bị mắc cạn trong một con lạch ở Hải Sơn buổi sáng ngày 11 tháng 6 năm 1981, trời đã sáng, nhiều người, kể cả một trong hai người chủ ghe, cũng bỏ ra về, nhưng tôi thì không. Tôi phải đi dù đi giữa ban ngày. Tôi phải tìm cho được tự do dù phải bị bắt và ngay cả phải trả giá bằng cái chết. Tự do đầu tiên, biết đâu cũng sẽ là cuối cùng và vĩnh viễn. Nhưng hai ngày sau, khi đứng trên boong tàu Mỹ, tôi biết mình vừa mất một cái gì còn lớn hơn ngay cả mạng sống của mình. Đó là đất nước, quê hương, bè bạn, con đường, tà áo, cơn mưa chiều, cơn nắng sớm, và trên tất cả, hình ảnh mẹ. Không phải những người ra đi là những người quên đất nước hay người ở lại bám lấy quê hương mới chính là người yêu nước. Không. Càng đi xa, càng nhớ thương đất nước, càng thấm thía được ý nghĩa của hai chữ quê hương. Không ai hiểu được tâm trạng người ra đi nếu không chính mình là kẻ ra đi.

Nói như thế không có nghĩa là tôi hối hận cho việc ra đi. Không, tôi phải đi. Nhưng chọn lựa nào mà chẳng kèm theo những hy sinh đau đớn. Bài hát Sài Gòn Vĩnh Biệt, tôi thỉnh thoảng nghe trên đài VOA khi còn ở Việt Nam như những mũi kim đâm sâu vào tâm thức. Bao nhiêu điều hai ngày trước tôi không hề nghĩ đến đã bừng bừng sống dậy. Bao nhiêu kỷ niệm tưởng đã chìm sâu trong ký ức đã lần lượt trở về. Tự do, vâng, tôi cuối cùng đã tìm được tự do nhưng đó chỉ là tự do cho chính bản thân mình. Những gì tôi đánh mất còn lớn hơn thế nữa.

Nhớ lại đêm thứ hai trên biển, khi biết chiếc ghe chiều dài vỏn vẹn mười mét rưỡi nhưng chứa đến 82 người của chúng tôi vừa cặp vào thành tàu chiến của Mỹ thay vì Ba-Lan hay Liên-Xô như mọi người trên ghe lo sợ, ai cũng hân hoan mừng rỡ. Đám bạn tôi, có đứa thậm chí còn hô lớn "USA, USA" và ôm chầm lấy những người lính hải quân Mỹ đang dang tay đỡ từng người bước lên khỏi chiếc cầu dây đang đong đưa trên sóng. Tôi cũng vui mừng, biết ơn và cảm động nhưng không ôm chầm hay hô lớn. Lòng tôi, trái lại, chợt dâng lên niềm tủi thẹn của một người tỵ nạn. Chiếc cầu dây mong manh tôi bám để leo lên chiến hạm, trở thành chiếc cầu biên giới, không chỉ cách ngăn giữa độc tài và tự do, của quá khứ và tương lai, mà còn giữa có quê hương và thiếu quê hương. Tôi nghĩ thầm, cuối cùng, tôi cũng như nhiều người Việt Nam khác, lần lượt bỏ đất nước ra đi mà thôi. Dù biện minh bằng bất cứ lý do gì, tôi cũng là người có lỗi với quê hương.

Tôi nhớ đến mẹ, người mẹ Hòa Hưng vất vả nuôi nấng bảy đứa con, trong đó tôi là con lớn nhất, trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn. Mẹ tôi bán bánh bèo ở đầu đường để nuôi chúng tôi ăn học. Mẹ tôi tình nguyện đi kinh tế mới ở Sông Bé để các em tôi còn được phép ở lại Sài Gòn học hết bậc phổ thông. Mẹ tôi đi mót lúa, mót khoai gởi về nuôi nấng chúng tôi trong những ngày đói khổ.

Trong tâm trí tôi, hình ảnh bà mẹ Hòa Hưng, đêm đầu tiên trong căn nhà không vách trên vùng Kinh Tế Mới, khoảng 20 cây số phía Nam thị trấn Đồng Xoài vào năm 1976. Cánh rừng vừa được khai hoang vội vã này không ai nghĩ một ngày sẽ được gọi bằng một cái tên rất đẹp, khu Kinh Tế Mới. Kinh Tế Mới là những căn nhà lá mỗi chiều chỉ hơn mười mét do những bàn tay học trò của thanh niên xung phong dựng lên, nối nhau chạy dọc theo cánh rừng hoang.

Tôi kính yêu mẹ. Mẹ Hòa Hưng là người săn sóc tôi trong những tháng ngày khó khăn nhất của tôi và người đã thôi thúc tôi viết nên bài thơ Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười trong đêm mưa hơn mười năm trước. Tuy nhiên, mẹ của Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười không phải là người đã mang tôi vào cuộc đời này.

Người mẹ sinh ra tôi đã chết khi tôi còn rất nhỏ. Nhỏ đến nỗi tôi gần như không biết mặt mẹ mình. Trong tuần hoàn của vũ trụ, giọt nước còn biết mẹ mình là mây, chiếc lá còn biết mẹ mình là cây, còn tôi thì không. Tôi là đứa bé cô độc, một con người cô độc, không anh em, không chị em. Tôi lớn lên một mình với cha tôi trong cảnh gà trống nuôi con trong căn nhà tranh nhỏ ở làng Mã Châu, quận Duy Xuyên. Đêm đêm nằm nghe cha kể chuyện thời trai trẻ buồn nhiều hơn vui của đời ông. Những ngày tản cư lên vùng núi Quế Sơn. Những ngày sống trong túp lều tranh dưới hàng tre Nghi Hạ. Và dưới hàng tre Nghi Hạ nắng hanh vàng đó, cha mẹ tôi đã gặp nhau, đã chia nhau ly nước vối chua chua thay cho chén rượu tân hôn nồng thắm. Dù sao, bên khung cửi vải, bên lò ươm tơ, họ đã cùng nhau dệt một ngày mai đầy hy vọng. Mặt trời rồi sẽ mọc bên kia rặng tre già, mặt trăng rồi sẽ tròn bên kia giòng sông Thu, những ngày chiến tranh, tản cư cực khổ sẽ qua đi nhường bước cho hòa bình sẽ đến.

Nhưng rồi chiến tranh như một định nghiệp, đeo đuổi theo số phận của đất nước chúng ta, đeo đuổi theo số phận của đời tôi. Năm tôi 13 tuổi, chiến tranh đã cướp đi cha tôi, người thân yêu cuối cùng của tôi. Chiến tranh lan tràn đến làng Mã Châu, đẩy tôi ra khỏi xóm lụa vàng thân quen để làm người du mục trên quê hương đổ nát của mình. Từ đó tôi ra đi. Từ chặng đường đầu tiên trên căn gác hẹp trong con hẻm 220 Hùng Vương Đà Nẵng, đến chùa Viên Giác Hội An, xóm nghèo Hòa Hưng, trại tỵ nạn Palawan và hôm nay trên nước Mỹ, nơi cách chặng đầu tiên trong hành trình tỵ nạn của tôi hàng vạn dặm.

Hình ảnh duy nhất của tôi về mẹ là ngôi mộ đầy cỏ mọc dưới rặng tre già ở làng Mã Châu. Ngày tôi còn nhỏ, mỗi buổi chiều khi tan trường tiểu học, trên đường về tôi thường ghé thăm mộ mẹ. Nhổ những bụi cỏ hoang, trồng thêm những chùm hoa vạn thọ. Tôi ưu tư về cuộc đời và về thân phận của mình ngay từ thuở chỉ vừa năm, bảy tuổi. Tại sao tôi chỉ có một mình? Tại sao mọi người đều lần lượt bỏ tôi đi? Nếu mai mốt ba tôi cũng đi thì tôi sẽ sống với ai? Lớn lên tôi sẽ làm gì? Tại sao đất nước tôi lại có chiến tranh? Những người du kích bên kia sông là ai? Và ở đó những buổi chiều vàng, bên ngôi mộ nhỏ của mẹ, tôi để lòng tuôn chảy những suy tư, dằn vặt đang bắt đầu tích tụ. Từ khi năm bảy tuổi tôi đã linh cảm cuộc đời tôi sẽ là những ngày đầy biến cố. Tôi đã nghĩ đến chuyện một ngày nào đó tôi sẽ đi xa khỏi rặng tre già, khỏi ngôi làng tơ lụa Mã Châu dường như thôn làng nhỏ bé này sẽ không đủ lớn để chứa hết những buồn đau, u uất của tôi. Nếu tuổi thơ là tuổi hồn nhiên với những cánh diều bay, với những con bướm vàng thơ mộng thì tôi đã không có tuổi thơ. Tuổi thơ tôi là một chuỗi ngày ưu tư và chờ đợi một điều gì sắp đến.

Mẹ tôi qua đời vì bịnh trong một xóm nhà quê nghèo khó nên không có ngay cả một tấm hình để lại cho tôi. Cha tôi thường bảo, tôi giống cha nhiều hơn giống mẹ. Tôi cũng chẳng có cậu hay dì nên tôi lại càng không thể tìm đâu ra được một nét nào của mẹ trong những người thân còn sống. Vì không biết mẹ, nên mẹ trở thành tuyệt đối. Khi nhìn ánh trăng tròn trong ngày rằm tháng Bảy, tôi nghĩ đó là khuôn mặt dịu dàng của mẹ, nhìn nước chảy ra từ dòng suối mát tôi nghĩ đến dòng sữa mẹ, nhìn áng mây trắng bay trên nền trời tôi nghĩ đến bàn tay mẹ, nhìn những vì sao trên dải thiên hà tôi nghĩ đến đôi mắt mẹ. Nói chung, hình ảnh nào đẹp nhất, tinh khiết nhất, thiêng liêng nhất, đều được tôi nhân cách hóa nên hình ảnh mẹ. Vẻ đẹp của mẹ tôi là vẻ đẹp không những tuyệt vời mà còn tuyệt đối.

Tôi về thăm mộ mẹ lần cuối vào năm 1980 trước ngày vượt biển. Ngôi mộ đầy cỏ mọc hoang vu. Sau 1975, ngay cả người sống cũng không ai chăm nom đừng nói gì chuyện chăm nom cho người đã chết. Hôm đó, tôi ngồi nơi tôi đã từng ngồi trong thời thơ ấu và kể cho mẹ nghe đoạn đời chìm nổi của mình. Tôi nói với mẹ rằng tôi sẽ ra đi khỏi nước và hứa sẽ về dù biết nói như thế chỉ để an ủi hương hồn mẹ mà thôi. Tôi cầu mong mẹ phò hộ cho đứa con duy nhất của mẹ được bình an trong những ngày sóng gió sắp xảy ra.

Ôi đời mẹ như một vầng trăng khuyết
Vẫn nghìn năm le lói ở đầu sông.

Vâng, vầng trăng bên dòng sông Thu Bồn từ đó không còn tròn như trước nữa.

Ai cũng có một cuộc đời để sống. Nỗi bất hạnh nào rồi cũng nguôi ngoai. Vết thương nào cũng lành đi với thời gian. Tuy nhiên có một nỗi bất hạnh sau bao nhiêu năm dài vẫn còn, đó là bất hạnh của dân tộc Việt Nam. Điều làm tôi đau xót nhiều hơn cả, không phải vì tôi mất mẹ, không phải vì tôi xa mẹ nhưng chính là sự chịu đựng của hàng triệu bà mẹ Việt Nam triền miên suốt mấy chục năm qua, từ chiến tranh sang đến cả hòa bình.

Trên thế giới này, bà mẹ Nga, mẹ Ý cũng thương con như một bà mẹ Việt Nam. Trong lúc tình yêu của một bà mẹ ở quốc gia nào cũng bao la, cũng rộng lượng, cũng vô bờ bến, tôi vẫn tin một bà mẹ Việt Nam thì khác hơn nhiều. Bà mẹ Việt Nam, ngoài là biểu tượng cho tất cả những nét đẹp của quê hương, đất nước, tình thương, còn là những hình ảnh đầy thương tích, tủi buồn nói lên sự chịu đựng, gian nan, khổ cực không thể nào đo lường hết được. Hình ảnh bà mẹ giăng tấm vải dầu trên một góc đường Trần Hưng Đạo để che nắng che mưa cho bầy con thơ dại đang đói khát. Hình ảnh bà mẹ chết đói sau khi ghe của mẹ đi lạc nhiều tuần trên biển. Hình ảnh bà mẹ chết trong mỏi mòn tuyệt vọng dưới gốc me già trên góc phố Sài Gòn vào một ngày mưa bão. Hình ảnh bà mẹ chết cô đơn trong chiếc thuyền chài nghèo nàn. Tất cả hình ảnh đau thương đó đã trở thành mối ám ảnh thường xuyên trong tâm trí tôi. Ám ảnh nhiều đến nỗi, dù viết về bất cứ chủ đề gì, thể loại gì, văn hay thơ, cuối cùng tôi cũng trở về với hình ảnh mẹ. Mỗi bước chân tôi đi trên đường đời mấy chục năm qua vẫn còn nghe vọng lại tiếng khóc của những người phụ nữ Việt Nam bất hạnh, đã khóc trong chiến tranh, khóc trong hòa bình, khóc trong bàn tay hải tặc giữa biển Đông và khóc trên xứ người hiu quạnh.

Mơ ước lớn nhất của tôi, vì thế, không phải cho tôi mà cho những người mẹ đang chịu đựng, để các mẹ có cơ hội được sống trong một đất nước không còn hận thù, rẽ chia, ganh ghét, một đất nước chan chứa tình đồng bào, một đất nước thật sự tự do, ấm no, hạnh phúc. "Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười" trong một ý nghĩa rộng hơn là ước mơ của tôi, của anh chị, của cô chú và của tất cả những ai còn nghĩ đến sinh mệnh của dân tộc, về một ngày đẹp trời cho đất nước mình. Quá nhiều máu và nước mắt đã đổ trên mảnh đất linh thiêng và thống khổ Việt Nam. Mỗi người Việt Nam, hơn bao giờ hết hãy trở về với mẹ như trở về với chính cội nguồn uyên nguyên của dân tộc mình. Trong đêm rằm tháng Bảy này, xin hãy cùng nhau thắp lên những ngọn nến, dù nhỏ, dù đơn sơ nhưng được làm bằng chất liệu dân tộc, nhân bản và khai phóng đã được tổ tiên chúng ta hun đúc sau hơn bốn ngàn năm lịch sử.

Đời tôi là những cơn mưa dài. Mưa khi tôi rời làng Mã Châu, mưa trong đêm đầu tiên trong căn gác trên đường Hùng Vương Đà Nẵng, mưa dưới gốc đa già ở Chùa Viên Giác, mưa khi tôi vừa đặt chân đến Sài Gòn lần đầu tiên và mưa lớn trong đêm tôi rời đất nước ra đi. Nhưng tôi chưa bao giờ tuyệt vọng, chưa bao giờ cảm thấy cuộc đời là hố thẳm. Tôi không sống trong hôm qua, trái lại mỗi ngày là một chặng đường mới của đời mình. Tôi bình tĩnh đến độ hồn nhiên khi đón nhận những khắc nghiệt đến với đời tôi và tôi rất lạc quan trong khả năng chuyển hóa hoàn cảnh của chính mình.

Trong cuộc đời này, tôi đã nhiều lần vấp ngã nhưng nhiều người cũng đã giúp vực tôi dậy, lau khô những vết thương trên thân thể và trong cả tâm hồn. Tôi mang ơn xã hội nhiều đến nỗi biết mình sẽ không bao giờ trả hết. Tôi biết ơn những người đã che chở cho tôi và cũng cám ơn cả những người đã dạy tôi hiểu giá trị của gian lao, thử thách. Cám ơn đất nước đã cho tôi được làm người Việt Nam, cám ơn mẹ Duy Xuyên mang tôi đến thế gian nầy, cám ơn mẹ Hòa Hưng nuôi nấng tôi trong những ngày bà con thân thuộc đã ruồng bỏ tôi, cám ơn cây đa già chùa Viên Giác che mát cho tôi suốt năm năm dài mưa nắng. Nếu một mai tôi ra đi không kịp viết điều gì, thì đây, những kỷ niệm của một lần ghé lại.

Trần Trung Đạo
Chị Cả Bống
Truyện ngắn của Phạm-Lưu-Vũ

Lời Giới Thiệu: Truyện ngắn Chị Cả Bống xuất hiện đầu tiên trên báo Người Hà Nội, số ra ngày 8/6/05. Lập tức toàn bộ số báo bị tịch thu. Ông phó tổng biên tập cho in bài "nổi loạn" này bị mất chức. Tác giả đang bị công an hù dọa liên tục. Hiện tại số báo ngày 8/6 này đang được phô tô truyền tay nhanh chóng tại Hà Nội, vượt xa cả số phát hành chính thức là 2000 tờ. Những số báo đã lỡ gởi ra trước khi có lệnh tịch thu mà các đại lý nhanh tay giấu được ngay lập tức được bán với giá gấp 10 lần ( 20. 000 đồng một tờ). Tại Sài Gòn nơi tác giả lấy bối cảnh để viết, giá lên gấp hai mươi, ba mươi lần.

Chiều tà, một người đàn ông phóng như ngựa phi nước đạI về phía tây thành phố, nơi ấy có nhà tù với cái tên rất đẹp là "Hoà khí". Tới cổng gác, ông ta trình thẻ căn cước cho lính canh. Sau khi xem chứng minh thư, lính canh dẫn ông vào văn phòng nộp hồ sơ. Một người đứng tuổi đeo kính trắng nhận hồ sơ rồi bảo:

- Dẫn tới khu nhà chờ, đợi thẩm tra hồ sơ, ba tuần sau có kết quả.

Lính canh lại dẫn ông ta đi, khu nhà chờ gồm vài dãy nhà cấp 4 sập xệ và rêu mốc, rất đông người ở kín các gian phòng, đàn ông, đàn bà, lớn bé, già trẻ, đủ cả... Điều kiện sinh hoạt rất tồi tệ song không ai ta thán, đơn giản họ chỉ ở lại đây có vài tuần. Từ khi lập ra khu nhà chờ này không lúc nào vơi người. Ngày nào cũng có người đi lại, ngày nào cũng có người đến. Giống như người đàn ông kia, mọi người chờ thẩm tra hồ sơ, nếu đủ tiêu chuẩn sẽ được vào tù. Tiêu chuẩn đơn giản nhưng không phải không kỹ càng, chỉ những người lương thiện không dính tý lưu manh nào mới được vào tù. Tất nhiên lũ bất lương đừng hòng bén mảng tới.

Chẳng ai lấy làm ngạc nhiên, ở xứ xở này, không có chuyện gì là không xảy ra kể cả những chuyện ngược đời, đơn giản mọi người không những thích đùa mà còn đùa rất dai; 5 giờ rưỡi sáng, kỹ sư Hoàng thức dậy, vợ và đứa con trai mười tuổi của anh đang ngủ say. Đứa con gái 17 tuổi của anh đêm qua không về, chị giúp việc cũng đã dậy từ lúc nào, đèn dưới bếp hắt lên mấy vệt sáng le lói qua khe cửa. Mười phút cho việc vệ sinh cá nhân, 25 phút cho việc mở các loại cửa. Như mọi nhà trong thành phố, từ lâu anh đã biến căn hộ của mình thành một pháo đài. Các cửa sổ ngoài việc lắp chấn song bằng thép dày, còn được giằng ngang ba ống thép to bằng cổ tay, chia đều từ trên xuống dưới. Cửa đi cũng bằng thép đúc, bên ngoài dán một lớp gỗ mỏng. Tính từ trong ra đến cửa, còn năm lớp cửa như thế, tất cả đều có khoá đặc biệt, mỗi cửa gồm ba chiếc khác loại nhau. Mở đến lần cửa cuốI cùng thì vợ con anh cũng vừa trở dậy. Những việc chuẩn bị cho một ngày mới diễn ra đã thành nếp. Sau khi dặn dò kỹ lưỡng chị giúp việc hai vợ chồng dắt xe đi làm. Chị kiêm thêm nhiệm vụ đưa con tới trường, chiều về ghé qua chợ mua thức ăn cho ngày hôm sau. Trước khi ra cổng, anh một lần nữa kiểm tra trên người vợ con xem có đeo bất cứ loại trang sức nào không, nhắc vợ cẩn thận kẻo bị cướp... Anh lại lần lượt khoá tất cả các cửa từ trong ra ngoài, trong lúc vợ đứng giữ xe. Đứng bên ngoài thò tay qua các lỗ cửa thực hiện những thao tác của người mù, mười phút nữa cho công việc ấy, xong xuôi vợ chồng con cái chia thành hai ngả phóng xe đi.

Kỹ sư Hoàng làm việc tại một cơ quan thiết kế gần trung tâm thành phố. Mới ngoài 40 mà tóc anh đã gần như bạc trắng, thằng con trai lớn 19 tuổi đang ở trung tâm cai nghiện, đứa con gái thứ hai 17 tuổi đua đòi chúng bạn bỏ cả học đi vũ trường thâu đêm, suốt sáng. Không phải vợ chồng anh không biết dạy con mà là bất lực. Con đường đời biết bao nhiêu cạm bẫy, nó gài khắp mọi nơi, mọI chốn, gài trên mỗi bước chân. Già đời chững chạc như vợ chồng anh, ngày nào cũng phải nhắc nhau từng tí một mà vẫn ngay ngáy lo rằng không biết lúc nào, cái bẫy nào sẽ ụp xuống mình đây?

Kỹ sư Hoàng chợt lạnh người. Có tiếng còi nghe rợn tai, một cảnh sát giao thông bước quả quyết từ trên vỉa hè xuống đường vừa tuýt còi, vừa chỉ thẳng cái dùi cui vằn vện vào mặt anh, một cảnh sát khác ngồi vắt vẻo trên yên xe máy phân khối lớn sơn màu trắng. Chưa kịp hiểu mình có sai luật hay không anh vội đạp phanh, chiếc xe dừng tắp lại.

- Kiểm tra giấy tờ! Người cảnh sát vừa rút chiếc còi ra khỏi miệng vừa giơ tay lên mũ chào như một cái máy, vừa ra lệnh cho anh. Cầm giấy tờ của anh đưa cho anh cảnh sát ngồi trên chiếc xe phân khối lớn, anh cảnh sát ấy lạI tiếp tục đút còi vào miệng cầm gậy trỏ xuống đường chọn bắt xe khác. Anh cảnh sát ngồi trên chiếc xe phân khối lớn, lướt qua đống giấy tờ của một anh khác. Không nói năng anh ta đưa mắt ngó lơ đi chỗ khác như thể chờ ai đến đọc giùm. Cũng như một cái máy, kỹ sư Hoàng dựng xe, móc bóp, rút ra một tờ đẹp đẽ vuông vắn có in hình lãnh tụ, bước tới chỗ anh ta.

Đến cơ quan, vừa kịp giờ làm việc, chuông điện thoạI reo. Đầu dây bên kia là một thẩm phán toà án, người đang xử lý vụ kiện đòi nợ của cơ quan anh. Bằng một giọng rất lễ phép anh thẩm phán nhắc khéo anh rằng vụ kiện của cơ quan anh sẽ có thể bị đình chỉ vì phía anh chưa nộp chi phí cho việc thẩm tra. Nhân tiện anh ta nhắn rằng bữa nhậu chiều qua vì điện thoại cho anh không được mà anh ta và đám chiến hữu bên viện kiểm soát phải ký nợ nhà hàng một khoản kha khá, lúc nào anh ghé qua thanh toán giùm...

Chiều hôm đó về nhà, kỹ sư Hoàng chưa kịp mừng vì tin cô con gái đã trở về đang nằm bẹp trên gác thì đã nghe vợ mếu máo báo tin chiếc xe máy của chị bị cướp, mẹ con phải đi bộ về. Thực ra chị đã dối anh, chiếc xe máy đó chị đã buộc phải thế chấp để chuộc cô con gái từ cái động của một mụ tú bà, vì cô còn nợ mụ một khoản tiền vay mua son phấn với mức lãi 40 % một ngày. Thế coi như của đi thay người. Kỹ sư Hoàng chưa kịp phát điên lên vì giận dữ thì may quá nhà có khách. Ông trưởng khu phố và mấy cán bộ của Uỷ ban lừng lững bước vào:

- Chúng tôi đến nhắc anh về khoản đóng góp xây nhà tù - Ông trưởng khu vào đề ngay, nhân tiện báo để anh biết tháng trước có xe chở vật liệu đến đây, anh đã thuê thợ sửa nhà mà không xin phép. Uỷ ban đã nắm được việc này, nếu anh không thu xếp ngay thì sẽ bị lập biên bản thu giữ giấy tờ nhà, giấy tờ đất.

Kỹ sư Hoàng ngớ ra, quả thật tháng trước anh có thuê thợ lắp thêm một lần cổng nữa, phải xây mấy mét vuông tường, tưởng việc nhỏ, không phải xin phép, ai ngờ... Thôi đành "thu xếp" cho mấy vị trong Uỷ ban, nhưng còn khoản đóng góp xây nhà tù ?

- Can phạm bây giờ nhiều quá ông trưởng khu phố giảI thích. Đấy anh xem, trong nhà gặp lưu manh, ra đường đụng kẻ cướp, đủ các kiểu ăn cướp; rồi còn lũ ăn trộm, lừa đảo cho vay nặng lãi, nhà tù nào cũng chật ních, phảI xây thêm. Ngân sách không kham nổi phải áp dụng phương pháp "Nhà nước và nhân dân cùng làm". Phố ta được giao chỉ tiêu góp vốn xây 500 mét vuông nhà tù, thế mà ngẫm lại vẫn chưa đủ cho số tội phạm của chính phố ta đang nằm trong đó, chưa kể số sắp phải vào tù nay mai...

Đoàn cán bộ khu phố về được một lúc thì lão Tiến cụt giò đến, đó là một lão già vô tích sự nhà kế bên. Lão bị cụt một bên giò từ hồi chiến tranh, giờ sống bằng số tiền thương tật, thỉnh thoảng con cháu dấm dúi gặp chăng hay chớ cho thêm. Suốt ngày chẳng làm trò gì, chỉ hay la cà hết nhà này đến nhà khác kiếm câu chuyện làm quà. Nhà kỹ sư Hoàng là một trong những nơi lão hay mò đến. Lão dở hơi ấy liến thoắng như thể đã tỏ tường mọi chuyện:

- Họ đến đòi tiền đóng góp xây nhà tù phải không? Anh kỹ sư này tôi nói anh xem có đúng không nhé: - Làm ngườI lương thiện bây giờ vất vả quá, phải góp tiền xây nhà tù cho bọn bất lương ở, lại còn phải nai lưng nuôi chúng nữa, trong khi bọn lưu manh ngày càng chiếm đa số, người lương thiện ngày càng giảm đi. Biết đâu đến một lúc nào đó, những nhà tù kia mới chính là địa chỉ mà người lương thiện cần đến cho mình. Khi ấy tất nhiên bọn lưu manh tha hồ ở goài, vì lương thiện bây giờ đâu có nhiều nhặn gì, vừa bắt chính bọn chúng phải nai lưng ra làm đề nuôi người lương thiện, như thế có phải là công bằng không ?

Kỹ sư Hoàng phì cười vì cái lý sự ấy của lão Tiến cụt, vừa lúc ấy, chuông điện thoại trong nhà đổ dồn, vợ anh nghe xong, mặt tái mét ra báo tin dữ:

- Anh tới ngay bệnh viện Chúng Sinh. Thằng Phúc con chị cả bị cướp giật té xe, chấn thương sọ não đang nằm cấp cứu trong ấy.

Chị Cả Bống là chị gái kỹ sư Hoàng ở dưới quê, anh chị có ba thằng con trai thì hai thằng lớn theo bố làm nghề xin đểu kiêm trấn lột ở bến đò Đuôi Cáo bị đâm lòi ruột, chết cả ba bố con từ năm kia. Cũng là cái số thôi. Làng khối người làm nghề ấy hoặc hao hao nghề ấy mà có sao đâu, chỉ thỉnh thoảng lại thấy đi ở tù, vài năm về còn lưu manh hơn trước. May còn lại một mình thằng út tên Phúc ngoan, hiền, học giỏi. Năm ngoái đỗ đại học lên ở ký túc xá. Nó thương cậu mợ Hoàng nghèo nên không muốn nhờ vả. Chị Cả bán hết mảnh vườn còn lại sắm cho nó cái xe máy cũ làm phương tiện đi lại. Hôm ấy đang làm cỏ ngoài đồng có người gọi về cái trạm điện thoạI công cộng ở đầu làng báo tin nó bị nạn. Chị nghe nhắn lại mà muốn quỵ luôn xuống ruộng. Vội vã chạy về nhà, chị vét vội mấy bơ lạc, bơ gạo nếp cho vào mấy cái bao ruột tượng tất tả chạy ra bến đò Đuôi Cáo. Vừa mớI mon men gạ bán ở các hàng quán quanh đó, bất ngờ gặp mấy anh quản lý thị trường, chị bị bắt vào trụ sở. Lạy van thế nào họ cũng không nghe, còn dẫn hết "nghị định 01" đến "thông tư 04" gì đó ra đọc sang sảng vào hai cái tai đã chỉ còn nghe thấy tiếng lùng bùng của chị. Kết quả mấy bơ lạc ấy bị tịch thu vì lý do bao bì không có nhãn hiệu hàng hoá!

Thật khốn khổ cho chị, chỉ do cuống lên vì đứa con cuốI cùng còn sót lại đang gặp nạn, muốn bán tống bán tháo mấy món tài sản ít ỏi ấy cho thật nhanh để lấy tiền đi xe lên thành phố. Chứ có phải chị buôn gian bán lận gì đâu ?

Còn tiền thuốc thang, nói dại, nếu nó bị nặng chị chưa biết sẽ trông vào đâu, một viên thuốc cảm bằng cái cúc áo bây giờ giá bằng ba bốn cân thóc. Giờ thì ngay đến việc lên nhìn mặt con cũng bị chặn đứng lại rồi. Không có tiền ai người ta cho chị đi xe hàng trăm cây số? Càng nghĩ chị càng quýnh quáng chân tay, cuống cuồng, đứng chôn chân một chỗ, đầu óc mụ đi, mắt ráo hoảnh, vô hồn nhìn phía trước như một bức màn sương... bỗng từ trong cái màn đục lờ ấy, một bóng trắng hiện ra quằn quại, máu bê bết hiện ra chập chờn lúc xa xa, lúc ập ngay trước mặt, gió lạnh quất gai người. Phảng phất màu tanh của máu tươi. Tai chị nghe rõ ràng tiếng kêu cứu của đứa con trai. Chị bàng hoàng nhận ra đó là tiếng rên từ địa ngục, tiếng của một âm hồn không còn ở cõi nhân gian này nữa:

- Mẹ ơi, con chết rồi. Họ đang mổ bụng con. Mẹ ơi...

Chị cả Bống hốt hoảng lao tới, giơ hai tay túm lấy bóng con, chợt cái bóng như có người giằng lấy, chập chờn quăng qua quăng lại trước mặt chị rồi mờ dần mờ dần, vẫn còn ri rỉ tiếng kêu cứu của oan hồn, rồi tất cả lịm đi. Cả tiếng kêu cứu lẫn cái bóng máu me chợt tắt ngấm bởi một tràng cười ré lên sằng sặc như của lũ ma quỷ nhưng không phải vọng lên từ địa ngục, tiếng cười ấy rõ ràng đang ở cõi nhân gian hiện hữu này...

Chị cả Bống sau này phát điên không về làng nữa, cứ lê la liếm láp ở quanh cái bến đò có cái tên rất ấn tượng là bến đò Đuôi Cáo ấy. Nhưng chị không điên ngay lúc đó, có người chứng minh là sau khi ra khỏi trụ sở ban quản lý thị trường chị vẫn còn tỉnh táo nhớ ra trong người còn sót mấy đồng tiền lẻ. Chị lần vào trạm điện thoại công cộng gọi điện báo cho cậu em trai. Đó là tất cả những gì chị làm được cho đứa con. Sau đó chị mới phát điên.

Kỹ sư Hoàng đến bệnh viện Chúng Sinh thì trời đã tối. Tìm tới phòng cấp cứu, anh hỏi thăm nạn nhân tên Phúc, cô hộ lý mặc blu trắng bảo:

- Biết ai là phúc với hoạ gì ở đây. Đi mà hỏi trực ban.

Phòng cấp cứu rộng mênh mông, đầy những giường là giường, giường nào cũng ít nhất hai người nằm trở đầu đuôi. Đủ các kiểu tai nạn, vỡ đầu, gãy chân, lòi ruột, lòi xương. Ánh đèn nê ông trắng bệch soi loang lổ những máu me bông gạc. Nồng nặc một thứ mùi vừa tanh tanh máu, vừa ngầy ngậy thuốc tây. Bóng những blu trắng đi qua lạI giữa các giường như ma trơi. Làm sao nhận ra đứa cháu bây giờ ?

Kỹ sư Hoàng vội vã đến phòng trực ban. Phòng trực ban cấp cứu nằm cuối dãy hành lang đầy những kẻ nằm người ngồi vạ vật rất chi là bệ rạc. Trong phòng có mấy người cũng mặc blu trắng đang chụm đầu bàn bạc nhỏ to:

- Cái mật hôm trước bán vội quá. Ngay hôm sau có ngườI tới trả cao hơn cả chục triệu, tiếc đứt r uột - một ngườI nói

- Cái này đếch bán nữa, đem ngâm rượu. Hũ rượu trước hết con mẹ nó rồi. Mấy lão hen suyễn kinh niên uống vào là khỏi, để giành bán cho các lão ấy. Gớm họ vừa chi tiền vừa cám ơn rối rít ấy chứ - một người khác nói

- Thôi được rồi! Người thứ ba nói - các ông xuống làm ngay đi, thằng này căn cước ghi rõ ràng: - 19 tuổi. Đã kiểm tra, đảm bảo còn nguyên dương ( đàn ông chưa xuất tinh lần nào) chết do chấn thương sọ não vừa được mấy phút. Cái mật này mới tuyệt hảo, để quá hai tiếng có mà hỏng mẹ nó cả chì lẫn chài. Đã điện thoại cho bên công an rồi, họ bảo cứ mổ đi, có gì đừng "quên" họ là được.

Hai người kia vội vã đứng dậy lao nhanh ra khỏi phòng, vừa lúc ấy kỹ sư Hoàng bước vào:

- Bác sĩ làm ơn cho hỏi thăm nạn nhân tên Phúc, 19 tuổi, sinh viên năm thứ hai, nghe nói bị chấn thương sọ não có cấp cứu ở đây không, nằm giường số mấy? Tôi là cậu ruột cháu - kỹ sư Hoàng vừa hỏi vừa tự giới thiệu Anh bác sĩ còn lại trong phòng thoáng một chút giật mình. Anh ta làm như nghĩ ngợi điều gì rồi ngập ngừng:

- Tên Phúc, sinh viên, 19 tuổi.. A... anh... à bác ngồi chờ cháu một lát.

Linh cảm thấy có gì nghiêm trọng xảy đến với đứa cháu, lại cứ tưởng anh bác sĩ kia vì thông cảm với nỗi đau của mình mà chưa nỡ nói ngay. Kỹ sư Hoàng vừa lo sợ vừa cảm động nhìn anh bác sĩ đang cúi gằm mặt, tay lần giở một cuốn sổ to tướng chậm rãi lần một hồi. Mồ hôi đã toát ra lấm tấm trên khuôn mặt đỏ như gà chọi, anh bác sĩ chợt ngẩng lên bảo:

- Trong sổ này không thấy có tên Phúc. Bác ngồi đây chờ cháu đi lấy sổ khác. Nhớ là đừng đi đâu đấy.

Nói xong anh ta gập sổ rồi vội vã ra khỏi phòng, không quên đóng sập cửa lại, còn một mình trong phòng, kỹ sư Hoàng lòng như lửa đốt. Bỗng chuông điện thoại reo vang, một hồi, hai hồi... chừng như người đầu dây bên kia có việc cần gọi cho bằng được. Kỹ sư Hoàng do dự giây lát rồi nhoài người với lấy cái ống nghe, định nói cho bên kia chờ lát nữa gọi lại. Vừa áp ống nghe lên tai, kỹ sư Hoàng chợt nghe ngay một giọng nói dằn từng tiếng:

- Trực ban cấp cứu phải không? Bảo với pháp y rằng cái mật lần này tuyệt đối không được bán nghe chưa! Chú Sáu bên Uỷ ban đăng ký rồi đấy.

Kỹ sư Hoàng chưa kịp hiểu mô tê ra sao thì người đầu dây bên kia đã dập máy. Sau khi định thần suy nghĩ kết hợp với mấy câu cuối nghe được loáng thoáng lúc mớI bước vào phòng, kỹ sư Hoàng chợt lạnh người với một nỗi nghi ngờ. Anh với cuốn sổ lúc nãy mở ra. Ngay giữa trang cuối cùng, rõ ràng có tên nạn nhân Nguyễn Hồng Phúc, 19 tuổi, sinh viên, té xe, nhập viện lúc... giờ... ngày - người đưa đến: Phạm văn A - bạn cùng lớp. Bỗng cánh cửa sịch mở, anh bác sĩ khi nãy ùa vào. Nhìn thấy cuốn sổ trên tay kỹ sư Hoàng, anh ta thoáng một giây bối rối rồi lập tức liến thoắng:

- Cháu quên không đọc trang cuối, đúng là có...

Anh ta chưa kịp nói hết câu kỹ sư Hoàng đã ngắt lời:

- Tôi biết hết rồi, anh không phải giải thích
Rồi chẳng muốn nói gì thêm, nữa kỹ sư Hoàng ném trả cuốn sổ, hấp tấp lao nhanh ra khỏi phòng, anh bác sĩ hé cửa ngó theo, hơi lắc đầu, mỉm một nụ cười ý nhị rồI đóng cửa lại, ung dung quay vào. Chuông điện thoại lạI reo, anh ta cầm lấy ống nghe:
- Dạ... dạ... à thế ạ... Báo cáo, xong xuôi cả rồi ạ. Thế thì chú nói chú Sáu chuẩn bị rượu tốt để ngâm, cháu sẽ bảo anh em mang sang ngay bây giờ ạ.

Kỹ sư Hoàng xuống đến nhà xác thì Phúc đã nằm trong ngăn lạnh. Một không khí thê lương sặc mùi tử khí. Nền nhà vương đầy những bó nhang cụt, những cục nến gãy, những mẩu giấy tiền vàng mã... làm quang cảnh nơi đây giống như vừa xảy ra một vụ cướp. Viên quản lý nhà xác nghe trình bày, quan sát anh từ đầu đến chân bằng cặp mắt âm u như cặp mắt quỷ rồi chẳng nói chẳng rằng, ông ta lừ lừ tiến đến kéo một ngăn tủ ra. Kỹ sư Hoàng lạnh toát người nhìn trân trân cái xác... "Đúng thằng Phúc rồi, chị Cả ơi, khổ thân chị quá"... Không giữ nổi bình tĩnh, anh khuỵu xuống gục đầu vào ngăn tủ. Mùi máu tanh tưởi ập vào giác quan. Anh chợt tỉnh, ngẩng phắt lên, lấy tay lật manh áo trước bụng đứa cháu... một vết mổ cẩu thả còn chưa khít miệng với mấy mũi khâu vội vàng, dúm dó :

- Các người đã mổ cháu tôi... các người đã... Tôi sẽ kiện, kỹ sư Hoàng gào lên trong nước mắt

- Híc... viên quản lý nhà xác cất tiếng, giọng cũng âm u như phát ra từ bụng gã - Tha hồ cho ông kiện, tất cả những cái chết bất đắc kỳ tử thế này đều phải mổ hết, luật pháp quy định như vậy. Hừ có mà điên mới đi kiện luật pháp. À mà tôi đã vi phạm nội quy khi cho ông xem xác, lấy gì chứng minh ông là người nhà bây giờ? Mời ông đi khỏI đây. Nói xong gã đưa tay đóng sập ngăn tủ lại

- Nhưng tôi... kỹ sư Hoàng chưng hửng... vậy còn cháu tôi ?

- Trước hết phải có giấy tờ chứng minh ông là người nhà của nạn nhân đã, rồi sau đó phải làm đầy đủ thủ tục mớI mang được lấy xác ra khỏi đây. Mà ông định cõng xác trên lưng mang về hay sao? Viên quản lý lạnh lùng phán.

Kỹ sư Hoàng có vẻ hiểu ra những việc cần làm, anh thất thểu bước ra khỏi nhà xác gọi điện về nhà bảo vợ chuẩn bị căn cước, sổ hộ khẩu lên phường xin giấy chứng nhận rồi tìm đến một tiệm bán quan tài. Ông chủ tiệm quan tài có tên "Nhân nghiã đường" hăng hái đón khách. Chỉ vào đống quan tài đủ các kiểu loè loẹt đang bày la liệt, bảo kỹ sư Hoàng :

- Tuỳ bác chọn cái nào thì chọn. Bác cho biết địa chỉ, số nhà, giờ khâm liệm... chúng tôi sẽ cho người đến lo liệu.

- Không phải liệm ở nhà mà là ở nhà xác bệnh viện chúng sinh. Kỹ sư Hoàng ngắt lời

- Thế thì không được rồi. Ông chủ Nhân nghiã đường lắc đầu - tôi không bán được cho bác đâu, cũng không làm gì được hết.

- Tại sao lại như thế ? Kỹ sư Hoàng kinh ngạc thốt lên?

- Chắc đây là lần đầu tiên nhà bác có người chết ở bệnh viện - ông chủ Nhân nghiã đường giải thích - bệnh viên có luật của họ, muốn lấy được xác ra phải có cửa. Quan tài mua tiệm nào do họ chỉ, khâm liệm, ma chay... tất tần tật do người của họ làm hết. Có thế họ mới ăn chứ, độc quyền mà.

- Té ra phải như vậy. Kỹ sư Hoàng cay đắng nghĩ rồi rờI khỏi tiệm "Nhân nghiã đường". Quay lại chỗ nhà xác chờ một lúc lâu thì vợ anh mang giấy tờ tới. Mấy đứa bạn học của Phúc biết tin cũng đã tìm đến, mang theo nhang hoa và trái cây. Lúc này đêm đã gần khuya, mắt đỏ hoe vợ anh mếu máo:

- ối anh ơi, vẫn chưa thấy tăm hơi chị cả đâu, em đến nhà ông chủ tịch nói mãi ông ấy mới ký cho cái giấy chứng nhận, lại vừa đóng lệ phí, vừa bồi dưỡng hết mấy trăm. Cháu nó nằm đâu để em vào thắp nén nhang cho cháu.

Kỹ sư Hoàng dẫn vợ và đám bạn của Phúc vào, trình mớ giấy tờ cho viên quản lý. Gã này săm soi một lát rồi lắc đầu :

- Không được, trường hợp này công an còn phải điều tra, vả lại khi nãy ông còn định kiện tụng gì nữa cơ mà ? Sáng mai đến giải quyết

- Chẳng lẽ để đứa cháu lạnh lẽo qua đêm không một chút khói nhang an ủi linh hồn? kỹ sư Hoàng lúc này đã mụ mẫm hết tinh thần, cụt què cả ý chí, anh chỉ còn biết vớt vát như một cái máy :

- Tôi xin ông, ấy là tôi chót nhỡ mồm. Tôi không kiện tụng gì đâu. Mọi việc giao cho các ông "lo" hết. Chỉ mong sao mang cháu về nhà...

- Vậy thì về viết cam đoan đi, viên quản lý hạ giọng - nhưng cứ phải sáng mai mới giải quyết. Không có giấy của công an thì bố tôi cũng không dám giao xác cho các người.

Sáng sớm hôm sau. vừa thò mặt đến cổng nhà xác bệnh viện Chúng Sinh đã có mấy kẻ mặt mũi rất chi là khả nghi túm lấy kỹ sư Hoàng.

- Xác của bác là xác tai nạn giao thông phải không ? Giá chót tám triệu, chúng em lo mọi thủ tục chiều lấy xác ra... quan tài khâm niệm 12 triệu nữa bao trọn gói - một ngườI trong bọn bảo

- Tại sao lại phải đến chiều ? Làm ngay trong sáng nay không được sao? kỹ sư Hoàng hỏi lại

- Hì các bác này đúng là chưa "chết" lần nào. Phải đợI công an người ta hoàn tất hồ sơ chứ... một người khác giải thích - mà chúng em phải đưa bác đến làm tờ khai, chiều lấy được là con nhanh, với điều kiện phải có bồI dưỡng... không thì cứ đợi đấy.

Đám người ấy quả là thạo việc, rốt cục chiều hôm ấy kỹ sư Hoàng cũng đưa được xác đứa cháu về nhà sau khi đã được khâm liệm cẩn thận. Vẫn không thấy bóng dáng chị cả đâu, linh tính xảy ra chuyện chẳng lành, kỹ sư Hoàng bàn với vợ cùng mấy đứa bạn của Phúc trông nom nhang khói, để anh về làng đón chị Cả lên:

- Có mấy kẻ lạ mặt lảng vảng ngoài cổng nghiêng ngó hỏi thăm, mấy đứa bạn của Phúc chạy ra nghe ngóng rồI vào bảo:

- Mấy thằng cò nghiã địa bác ạ. Nó bảo đất chôn mặt tiền lối đi là 12 triệu, phía trong tám triệu, chưa kể tiền lo giấy phép chôn và công đào huyệt lấp đất xây mộ, tuỳ theo to nhỏ tính riêng. Nếu túng tiền thì chôn đứng. Chôn đứng rẻ hơn một nửa, tất nhiên đất rộng chỉ bằng 1/3. Nghiã địa bây giờ khối người phải chôn như thế, thành ra đầy những ma đứng, linh hồn đứng, đứng vĩnh hằng. Vội vã phóng về quê, kỹ sư Hoàng hoảng hốt lạnh ngườI khi hàng xóm bảo chị Cả Bống đã lên thành phố từ chiều hôm qua, mấy nhà khác thấy anh về đổ đến hỏi thăm. Có người chợt nhớ ra bảo:

- Sáng nay đi chợ thấy ở bến đò Đuôi Cáo có ai nhang nhác bác Cả Bống ấy. Hay là bác sang tìm thử xem.

Không kịp suy tính, kỹ sư Hoàng vội vã lao sang bến đò, tìm khắp các hàng quán hỏi thăm, ai cũng lắc đầu. Chợt anh nhìn thấy dưới bờ sông sát mép nước, một người đàn bà đầu tóc rũ rượi đang ngồi ném những nắm cát xuống dòng sông... kỹ sư Hoàng vừa nghi hoặc, vừa thận trọng tiến lại gần... "Ai như chị Cả? Anh cất tiếng gọi... một tiếng, hai tiếng... Người đàn bà chợt quay phắt lại... Đúng là chị, chị nhìn anh với đôi mắt thất thần, khuôn mặt răn reo, lem luốc cát. Bỗng chị lảo đảo lao đến, ôm chầm lấy anh, gào lên nức nở:

- ối ! Con ơi, con về với mẹ đây rồi, người ta cướp cái gì của con, con chết có đau không? Con về đây báo oán mẹ... mẹ không đến được với con... con ơi

Cứ thế chị gào mãi, gào mãi, tiếng gào rợn cả một khúc sông. Kỹ sư Hoàng hai tay nâng khuôn mặt chị, miệng hoảng hốt nhắc đi nhắc lại: - Em đây mà, Hoàng đây mà!

Song chị đâu có nghe, đâu có thấy, chỉ một mực gào tên con... dần dần tiếng chị khản đặc chỉ còn như tiếng thở lào phào... Người chị bỗng lả đi, từ từ khuỵ xuống. Kỹ sư Hoàng quỳ xuống theo, hai chị em ôm nhau quỳ trên bãi cát, hoàng hôn bắt đầu buông, trăng chiều rực lên đỏ thẫm. Qua màn nước mắt, anh cảm thấy tất cả không gian như chìm trong biển máu, bên tai anh chợt vọng lên văng vẳng giọng nói của lão Tiến cụt hôm trước:

- Làm người lương thiện bây giờ vất vả quá... biết đâu đến một lúc nào đó những nhà tù kia mới chính là địa chỉ mà người lương thiện cần đến cho mình. .
Họp mặt đầu Xuân 2005 tại Paris
Hồi ký của Nguyễn-văn-Thu 17/12/2005

Một ngày cuối đông, nhận được thư mời tiệc thân-hữu của phân hội Pháp tổ chức tại Paris, mình và Muội, bà xã xách chiếc xe nhỏ Nissan Micra từ Liège đến Paris.

Trong lòng mình hơi xao xuyến, vì mình sẽ gặp những người bạn của Hội Ái-Hữu Công-chánh mà mình chưa bao giờ gặp mặt, có chẳng qua vài cú điện-thoại và e-mail với thân-hữu Hoa-trường-Xuân, người liên-lạc.

Xe vừa chạy được khoảng 10km thì trời bổng nhiên đổ giboulées trắng xóa, mình không biết là có thể đến Paris được không hay là phải quay đầu về, nhưng may mắn thay, xe vừa qua khỏi Charleroi, gần biên giới Pháp thì trời trở nên quang đãng.

Mình đến Paris trước một ngày, thuê một phòng trong một hotel ở khu Chinatown (arrondissement 13) cho tiện đi hợp mà tiện ăn chơi nữa. Thú thật, khoảng 10 năm trước đây, mình đi Paris thường lắm, cứ mỗi tháng là đi vì nhớ những món ăn độc đáo của các đầu bếp Ðông dương như : Việt-Nam, Cao-miên, Lào, Ấn-độ, Thái-lan… mà không đâu tại Europe có thể so sánh được. Vã lại sang Paris vì mình thèm uống tách cà-phê và ăn một cái croissant parisien rất nổi tiếng.

Trưa và chiều đó mình và bà xã tha hồ đi dạo khu phố ăn cơm, xem nhạc, vidéo Việt-Nam… và cũng không quên ghé ngang xem khu Tolbiac, chỗ họp mặt ngày hôm sau. Khu Tolbiac tuy có suy sút chút đĩnh nhưng vẫn còn giữ phong độ. Cũng tại đây, ngày xưa mình dẫn bà xã đi dự họp mặt của Hội Dược-sĩ tại Pháp cho nên mình đã quen thuộc.

Còn một cái thú ở Paris nữa mà kỳ này mình không hưởng được là vì chỉ xảy ra vào hè thôi, vì mình ngủ mở cửa sổ, và mỗi sáng thức dậy vì tiếng guốc ngoài ngõ của các cô Việt-Nam hay Trung-hoa đi làm, mình cảm thấy lúc đó như đang du lịch ở Sài-gòn ngày xưa.

Ngày hôm sau, đi họp vào buổi sáng, gặp các thân hữu là nhận được ngay, họ lớn tuổi hơn mình rất nhiều thông thường 70-80 tuổi, tất cả ngồi gần một cửa sổ, bên một bàn dài sắp theo kiểu bàn tiệc.

Ngoài những chuyện thông thường như báo cáo tình trạng quỹ, v.v… tất cả đã hàn huyên với nhau với một tâm hồn vô cùng cởi mỡ. Phần đông các anh chị ở Pháp là Kỹ-sư Công-Chánh cũ, sang Pháp vì lý do tị-nạn Cộng-sản hay theo diện đoàn-tụ gia đình. Ai cũng vậy thôi, lúc đầu cũng gặp nhiều khó khăn như mình khi ở Bỉ, hay em út mình khi ở Mỹ… và nhờ cố gắng mà tiến lên. Mình cũng khâm phục các anh chị ở Pháp đã vượt qua mọi khó khăn, rào cản của xã-hội, đại-học Pháp và thành đạt dù tuổi đã cao. Chính trong những lúc khó khăn này mà có bạn giúp đỡ thì quý biết bao, cho nên mình nghĩ rằng hội Ái-hữu Công-Chánh là một sáng lập quý giá để liên-lạc, thông-tin và giúp đỡ lẫn nhau giữa những người xuất thân cùng trường học, cùng một hoàn cảnh. Riêng mình, trong những năm cuối thập niên 60, là người Kỹ-sư Công-chánh duy nhất tại đất Bỉ, quả thật là khó khăn để tiến lên, do không biết thông-tin, không được nhiều giúp đỡ và nhất là không có ai cùng ngành để giúp mình.

Trước khi đi dự họp, mình thấy hơi lo vì mình không quen biết ai cả trong buổi họp, nhưng sau buổi họp mình cảm thấy như đã quen các thân hữu này tự bao lâu rồi !

Sau khi suy nghĩ, mình thấy rằng, đó chỉ là vì cái tình thân hữu của những người cùng một mái trường, cùng thầy cô, cho nên lạ cũng thành quen, và nếu đã quen thì lại càng thân hơn nữa.

NB : bài này mình đã cố gắng moi óc để viết lại sau buổi họp, nhưng cứ cầm cây viết lên là cảm nghĩ nó bay đi đâu mất. Lời văn mà không tình không ý thì không là văn, cho nên phải đợi đến bây giờ khi Noël gần đến, ngồi thả hồn theo về với quá khứ, mình mới có thể chấm dứt được bài này.



Trở về trang chủ AHCC7