Hội Ái-Hữu Kỹ-Sư Công-Chánh khóa 7
Thơ văn tuyển-tập
Cơm nhà cơm chợ
Thế sự đua nhau nói chịu chơi,
Biết ai là chịu, biết ai chơi,
Chơi mà "no" địa là chơi chịu,
Chịu đấm "no" tiền ấy chịu chơi.
Cao-Minh-Lý sưu tầm
Chồng ơi là chồng
3 bà X 7 chuyện = 21 điều vô
Không chồng là vô phước
Dụ chồng hàng xóm là người vô lương
Có chồng mà không con là vô hậu
Con chồng, mẹ ghẻ là kẻ vô tâm
Chồng cờ bạc : có số vô sản
Chồng nghiện ngập hút sách thì nợ nần vô tận
Chồng mang bệnh lậu (AIDS) là vô phương cứu chữa
Chồng theo vợ bé là phận gái vô duyên
Chồng bỏ đi tu là vô vi tiền kiếp
Chồng bê tha là chồng vô tích sự
Chồng hành hạ vợ là vô nhân đạo
Chồng mắng vợ- thứ vô liêm sĩ
Chồng lỗ mãng: chồng vô văn hóa
Chồng thô tục : chồng vô giáo dục
Không ngủ chung vói vợ là chồng vô tính (GAY)
Chồng muốm mà vợ không là kẻ vô tình
Vợ muốn mà chồng không thì vô hành lạc
Bỏ chồng mà đi chỉ tổ vô gia (cư)
Chồng làm, vợ tiêu là vô số kể
Chồng tiêu, vợ làm chỉ cịn vô tín dụng (Credit)
Nhưng . . .
Không chồng, không vợ thì đời vô vị phải không?Võ-ngọc-Khôi sưu-tầm
Cõng mẹ Huế, Đà nẵng, Phú yên, Rồi Cao nguyên thất thủ . Bom đạn thù tuôn đổ, Tiếng súng nổ rung trời, Chân chạy giặc rã rời, Xác người rơi lả tả . Vượt qua đèo Cả, Xuôi ngả Nha Trang, Người dân Nam từng lớp từng hàng, Cố chạy trốn làn sóng tràn địa ngục . Con lộ máu, hàng vạn người lúc nhúc, Kẻ lết đi, kẻ ngã gục ven đường . Tiếng đạn gào dìm tiếng khóc bi thương, Mù mịt bãi chiến trường không ranh giới . Những người lính miền Nam trong phút cuối, Vẫn kiên trì mở lối dẫn dân đi, Vẫn hiên ngang thép súng vững tay ghì, Nén phẫn uất, lầm lì xuyên lửa đạn . Người lính chiến trên bước đường di tản, Cõng mẹ già lánh nạn, bóng lênh khênh, Chân thấp cao trên sỏi đá gập ghềnh, Vành nón lá nhịp nhàng va nón sắt . Mừng vui lên ánh mắt, Mẹ hiền buộc chặt trên lưng, Dù mai đây có gục ngã nửa chừng, Cũng cùng mẹ được vùi chung nấm mộ . Lập loè mệnh số, Đường dài trắc trở mấp mô, Ngọt ngào nước đục lương khô, An lòng bữa no bữa đói . Đoàn quân âm thầm mở lối, Diệt chốt, bắc cầu, Khuya sớm dãi dầu, Đương đầu gió bão . Đạn dày như châu chấu, Khói cuộn tựa mây đùn . Trong tiếng rít lạnh lùng, Đã thoáng nghe mùi máu . |
Đạn tơi màu áo, Trên xác thân gượng gạo mỏi mòn . Viên đạn nào cho con, Viên đạn nào cho mẹ? Dòng máu từ tim mẹ, Thấm ướt đẫm lưng con . Dòng máu từ ngực con, Nhuộm đỏ bàn tay mẹ . Viên đạn này cho mẹ, Viên đạn này cho con . Nắng tàn lê lết, Quét lên người những vệt tang thương, Mẹ con nằm gục chết, Như cỏ úa bên đường . Người lính chiến, mắt dường còn mở hé, Cánh tay quài giữ chặt mẹ sau lưng , Trên dung nhan lem luốc bụi núi rừng, Nét mãn nguyện và đau thương lẫn lộn . Khuôn mặt mẹ, cuối một đời lận đận, Phớt hiện lên chút thanh thản an bình, Vòng tay khô ôm trọn xác con mình, Đành dang dở cuộc hành trình bi thảm . Ánh trời chiều ảm đạm, Vết thương sạm tím màu, Rã rời từng giọt máu bầm nâu, Lạc lõng cố tìm nhau trong cát bụi . Dòng máu trẻ xưa xa rời nguồn cội, Lang thang đi khắp nửa cõi u buồn, Trong phút giây sum họp với cội nguồn, Cùng máu mẹ trào tuôn trên đất lạ . x x x Rồi từ đấy qua bao mùa nắng hạ, Đường kinh hoàng, cây trổ lá đơm hoa, Vết máu xưa, mưa nắng đã xóa nhoà, Tìm đâu thấy dấu can qua ngày trước . Ngựa xe lũ lượt, Đêm ngày xuôi ngược đường xưa, Khách qua lại hững hờ, Mấy ai còn nhớ đến, Những ngày tàn cuộc chiến, Có người lính Cộng Hoà, Trên lưng cõng mẹ già, Dặm trường xa tránh loạn, Dập vùi cơn kiếp nạn, Đã bỏ mạng bên đường .
|
"Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài"
(Huy Cận)
"Tôi đứng bên bờ dĩ vãngThương về con nước, ôi con nước khi đong đầy phù sa cho những bến bờ hoàng hôn vàng chân cát mịn; ôi con nước khi cạn cùng bùn vẩn để những chuyến đò khuya khoắt nặng gót bùn đen. Con nước có đôi lần chững lại để dân xứ Tháp Mười mênh mang một nỗi cơ hàn ngập lũ. Con nước cũng mấy độ mưa qua cho du tử Ta Bà rưng rưng những niềm nhớ thương tràn cốc. Cũng trên con nước này, một đêm trăng thanh gió mát, dăm người bạn tâm đầu chèo thuyền hứng sương đổ ấm nấu trà, vỗ mạn thuyền mà ngâm thơ Tô Đông Pha trên dòng Xích Bích thuở nọ:
Thương về con nước ngại ngùng xuôi"
"Quế trạo hề lan tươngNgười xưa thường nói: "Trà tam tửu tứ du hành nhị". Nhưng có một du tử vẫn thường độc hành qua những bến bờ sơn thủy. Soi bóng mình qua đáy nước, noi chí Thánh tự trời cao, để cảm hết được nỗi cô đơn cùng cực và niềm yêu vô bờ giữa trần gian nhập nhòa mộng thực. Cũng trên con nước này mới cảm hết được câu thơ của Hàn Mặc Tử:
Kích không minh hề tố lưu quang
Diễu diễu hề dư hoài
Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương"
"Mây chết đuối giữa dòng sông vắng lặngCũng trên con nước này mới uống hết được ngụm Tràng Giang của Huy Cận:
Trôi thây về xa tận cõi vô biên."
"Củi một cành khô lạc mấy dòng"Tôi không biết Huy Cận viết bài Tràng Giang ở đâu. Một thi nhân miền Bắc thời tiền chiến nhưng hình ảnh của "Tràng Giang" lại là hình ảnh của Cửu Long Giang. Nếu không phải Huy Cận lấy hình ảnh từ một Mịch La của Khuất Nguyên, một "Yên ba giang thượng" của Thôi Hiệu, một Xích Bích của Tô Đông Pha, Trường Giang Tam Hiệp của những thi nhân Đường Tống hay sông Dương Tử qua cái nhìn của nữ văn sĩ Mỹ Pearl Buck, thì hình ảnh ấy phải là của Cửu Long Giang. Sông nước miền Bắc và miền Trung Việt Nam hẳn không có "Tràng Giang" như thế.
hay :
"Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng."
"Lòng quê dờn dợn vời con nướcTn Đà dịch hai câu thơ cuối của "Hoàng Hạc Lâu" tuyệt bút đến đâu cũng không thể sánh với con nước dờn dợn của Huy cận giữa chiều hôm bảng lảng. Bà Huyện Thanh Quan nhìn thấy "Gác mái ngư ông về viễn phố", không gian còn nhỏ lắm. Chỉ có "Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa" của Huy Cận mới làm cho hồn hoang của hoàng hôn trĩu nặng. Có một ca từ của Trịnh Công Sơn có thể sánh với câu thơ này về hình ảnh: "Con diều rơi cho vực thẳm buồn theo" ("Tôi ơi đừng tuyệt vọng"). Nhưng nỗi buồn của người họ Trịnh đầy hiện sinh và bi đát, còn nỗi buồn của Huy Cận mới là nỗi buồn của tình tự quê hương. Thơ không còn đủ nuôi người ta sống, nhưng thơ cp1 thể nuôi người ta lớn. Cảm thức đọng lại trong thơ từng được chắt chiu qua bao bến bờ đi đến, để hôm nay đứng trên cầu Mỹ Thuận còn thương biết mấy chuyến phà xưa.
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nha."
"Rồi em lại ra đi như đã đến
Dòng sông kia cứ vẫn chảy xa mu
Ta ngi lại bên cầu thương dĩ vãng
Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu".
Quý Đông Tân Tỵ.
DTT.
(1): Trong bài "Hỏi nước sông Hoài"(Vấn Hoài thủy) của Bạch Cư Dị viết:
"Tự ta danh lợi khách
Nhiễu nhiễu tại nhân gian
Hà sự trường Hoài thủy
Đông lưu diệc bất nhàn"
Tôi yêu tiếng nước tôiÔng kể rằng ngày xưa hồi còn thơ ấu, những lời ru êm ái nhất ông nghe từ người mẹ là những "tiếng ru muôn đời" của nước Việt Nam, trong đó phần lớn là những câu thơ "Kiều ru" tuyệt diệu in sâu đậm nét trong lòng ông: "thoắt ngàn năm thành tiếng lòng tôi.". Thành thử về sau, khi soạn Kiều Ca, ông đã nhiều lần nhắc đi nhắc lại: ". tôi vẫn không quên mình là người Việt Nam.". Cũng có lần nhạc sĩ Phạm Duy viết trong báo Nghệ Thuật, số 6, xuất bản năm 1966 tại Sài Gòn, những cảm nhận của ông về tiếng lòng say sưa, tha thiết, thành khẩn với mình với người của nàng Vương Thúy Kiều qua ngón đàn tài tình của người "đệ nhất ca kỹ" mà ta tin chắc rằng đó cũng chính là tiếng lòng của ông: ". Tôi chỉ cho rằng mình đã tiếp nhận được của Nguyễn Du một thông điệp : nhạc của nàng Kiều buồn lắm, làm đứt ruột người và đau lòng mình : nhạc Kiều làm nao nao lòng Kim Trọng, làm say lòng Hoạn Thư, làm tan nát lòng Thúc Sinh, làm Hồ Tôn Hiến phải chau mày rơi lệ. Và cho đến khi nhạc Kiều hết sầu thảm và trở nên vui vẻ thì. hết truyện Kiều : sau khi tái ngộ người yêu, và thể theo lời yêu cầu của Kim Trọng, trình diễn xong một khúc nhạc vui, nàng Kiều cuốn dây đàn lại, hứa từ này xin chừa không đánh đàn buồn nữa. Nguyễn Du còn dạy tôi thêm điều này : Kiều đánh đàn cho người yêu nghe, cho kẻ thù hay cho người nắm quyền lực nghe. cũng đều trình diễn với một tấm lòng say mê, tha thiết, thành khẩn với mình, với người. Ngoài ra, ta còn nhận thấy rằng, trong truyện Kiều, kẻ sĩ, nhà buôn, quan lại, thích tài đánh đàn của Kiều và họ thích nghe âm nhạc. Còn vị võ tướng họ Từ, trong suốt thời gian ở với Kiều, không một lần nào muốn làm Chung Tử Kỳ như Kim Trọng, muốn hỏi đến nghề trúc tơ và bắt dạo đàn cho Thức Sinh nghe như Hoạn Thư, hoặc muốn ép nàng vặn trục đàn như Hồ Tôn Hiến. Trượng phu khi xưa không ưa nghe nhạc buồn chăng? Vậy mà ông phải chết đứng! Tội nghiệp!
Từ khi mới ra đời người ơi
Mẹ hiền ru những câu xa vời
À à ơi tiếng ru muôn đời
.
Một yêu câu hát truyện Kiều
Lẳng lơ như tiếng sáo diều làng ta
Và yêu cô gái bên nhà
Miệng xinh ăn nói mặn mà (mà lại) có duyên.
(TÌNH CA - 1953)
. Mẹ năm mươi tuổi chiến tranhNhạc sĩ Phạm Duy đã rất am tường về cách thức người bình dân Việt Nam "sống" với truyện Kiều trong sinh hoạt hàng ngày, như trong cuốn Đặc Khảo Về Dân Nhạc Ở Việt Nam do ông soạn (NXB Hiện Đại - Sài Gòn năm 1972) có đoạn viết: ". Truyện Kiều đã tạo nên một lối ngâm hay kể Kiều. Khi không ngâm cả một truyện thơ mà chỉ kể lại một vài đoạn, người ta gọi lối trích truyện thơ ra để ngâm như vậy gọi là lẩy. Ngâm Kiều hay kể Kiều hay lẩy Kiều thì vẫn dùng ngũ cung nhưng có hai nét nhạc: một chạy trên bộ do re fa sol la, một chạy trên bộ re fa sol la do." Rõ ràng nhạc sĩ Phạm Duy đã "ưu tư" rất nhiều về truyện Kiều, ông yêu truyện Kiều, ông thuộc truyện Kiều và hằng ngày ông nghiền ngẫm Kiều, thảng hoặc có lúc nào rảnh rỗi biết đâu ông cũng ngâm nga "lẩy Kiều" hay "bói Kiều" như bao người bình dân Việt Nam khác? Vả lại nếu như ông không thuộc không yêu truyện Kiều, thì làm sao ông soạn nhạc cho Kiều được, vì như ai ai cũng biết, lề lối làm việc của ông rất nghiêm túc, kỹ lưỡng, cẩn thận, nhất là đối với một tác phẩm lớn của dân tộc Việt Nam là Kim Vân Kiều của cụ Nguyễn Du? Đến năm 1977 ông lại nhắc đến truyện Kiều một lần nữa trong Nguyên Vẹn Hình Hài:
Con hai mươi tuổi hòa bình về chơi
Từ lâu súng nổ vang trời
Hôm nay in lặng cho đời ngẩn ngơ.
. Mẹ tôi giấc ngủ khó khăn
Xưa nay ru mẹ toàn bằng đạn bom
Mẹ ơi giấc ngủ muộn màng
Con xin ru mẹ một ngàn lời ru
Ẩu ơ tiếng hát Nguyễn Du
Vần thơ Sáu Tám hát cho hòa bình
Ẩu ơ tiếng hát Nguyễn Du
Vần thơ Sáu Tám hát cho hòa bình.
(BÌNH CA 6 RU MẸ - 1973)
. Ai có về biển dài cát rộngÔng có ý nói rằng ở quê hương Việt Nam ai cũng yêu truyện Kiều và vì vậy người dân Việt Nam rất thích và rất thành thạo niêm luật dễ dàng dễ hiểu của thể thơ Lục Bát nên ai ai cũng làm thơ được. Thật đúng quá! Gần đây, vừa nghe nói ông đã cho ra mắt Minh Họa Kiều II ở nước ngoài, cũng như cách đây vài năm Minh Họa Kiều I đã được nhà báo Hoàng Phủ Ngọc Tường viết khen ngợi trên tờ Tạp Chí Ấm Nhạc Số 2 - 1998 phát hành tại Sài Gòn có tựa là Đêm Nghe Kiều Ca Tại Paris. Tuy ở cách xa Sài Gòn vài trăm cây số, nhưng tôi cũng đã cố đi lùng kiếm và may mắn đã tìm được đĩa CD tác phẩm mới nhất này của ông. Minh Họa Kiều II gồm có 11 bài, đó là : Người Đâu Gặp Gỡ - Lơ Thơ Tơ Liễu - Cách Tường Một Buổi - Biết Đâu Hợp Phố - Đá Biết Tuổi Vàng - Hán Sở Tranh Hùng - Tư Mã Phượng Cầu - Này Khúc Kê Khang - Chiêu Quân Cống Hồ - Càng Tỏ Hương Nồng - Trăng Thề Còn Đó. Bài nào nét nhạc cũng lạ, cũng hay, được thể hiện qua giọng ngâm trong vắt, tuyệt vời, giàu biểu cảm của Thanh Ngoan, Thảo Hiền và được trình bày bởi những giọng ca thượng thặng, sang trọng nhất, quý phái nhất của cộng đồng Việt Nam của cả quốc nội, quốc ngoại hiện nay, đó là Ái Vân, Duy Quang, Tuấn Ngọc, Thái Hiền, Thái Thảo. Ngòai ra, còn phải kể đến tài nghệ hòa điệu phối khí của nhạc sĩ Duy Cường - đã quyết định phần lớn sự thành công của nhạc phẩm - làm người nghe rất lấy làm lạ lùng thích thú vì chỉ có. một mình nhạc sĩ Duy Cường mà thôi (có lẽ phải kể thêm giàn máy computer cao cấp nữa), nhưng những nhạc cụ dân tộc như đàn tranh, đàn bầu, đàn nhị, đàn nguyệt, tam thập lục, sáo trúc, song loan, chiêng, trống v.v. lại được sử dụng rất điệu nghệ và hòa quyện với nhau một cách tự nhiên, hài hòa, rất trau chuốt, điêu luyện và rất công phu, rất gây ấn tượng, để tạo nên hình ảnh gần như thực thấy, đúng với ý nghĩa của hai chữ "minh họa". Nhạc sĩ Phạm Duy đã soạn Minh Họa Kiều khi đang ở nước ngoài. Đó là một sự kiện đáng phải trân trọng. Vì rằng ngay ở trong nước, hiện nay nhiều nhà phê bình âm nhạc đang lên tiếng cảnh báo về hiện tượng âm nhạc có chiều hướng lai căng, mất gốc, xa dần "cội nguồn dân tộc". Vậy mà ở nước ngoài, chỉ có một mình nhạc sĩ Phạm Duy, đơn độc ông "trở về nguồn" bằng một tác phẩm lớn, lớn như cái tâm của ông, như ngày nào ông viết Trường Ca Con Đường Cái Quan hay Trường Ca Mẹ Việt Nam vậy. Ông nhắc nhở tất cả mọi người Việt Nam rằng xin hãy nhớ mình vẫn là người Việt Nam dù đang sinh sống ở đâu trên khắp thế giới, rằng vẫn còn có nguồn cội để mà tìm về, rằng vẫn còn đó truyện Kiều bất hủ của thi hào Nguyễn Du, để mà ngâm, để mà lẩy, để mà vịnh, để mà bói, và bây giờ, nhờ nhạc sĩ Phạm Duy, còn để mà hát nữa. Nhạc sĩ Phạm Duy đã soạn Minh Họa Kiều khi ông đã 80 tuổi. Đây là một hiện tượng rất đáng khâm phục. Ở vào cái tuổi "đã nghe gần gũi nhạc thiều âm ty" (Tình Thu - Phạm Duy) mà ông vẫn còn có đủ trí lực và sức khỏe để viết, và viết cho tới-nơi-tới-chốn như Minh Họa Kiều I & II thì quả là hiếm có lắm. Mấy người được như ông? Tôi nhớ có một bài viết của nhà thơ Nguyên Sa có tựa : Phạm Duy - Đại Lực Sĩ cách đây gần 10 năm, không ngờ sau 10 năm "danh hiệu" đó dành cho ông vẫn còn nguyên: nhạc sĩ Phạm Duy vẫn còn là "lực sĩ" cả trong thể trạng và trí tuệ. Thật là mừng sao, vì nhờ vậy mà hôm nay chúng ta mới còn được nghe Minh Họa Kiều I và II của ông. Ở Việt Nam, tôi cũng đã được nghe Minh Họa Kiều của nhạc sĩ Phạm Duy.
Nơi công dân nào cũng làm thơ
Tôi hết thuộc lời vàng châu ngọc
Xin ru tôi nghe truyện Kiều xưa.
Quê hương tôi thi vị đầy trời
Con tim tôi luôn được đầy vơi.
(NGUYÊN VẸN HÌNH HÀI - 1977)
Võ-ngọc-Khôi sưu tầm
Bài thơ thứ nhấtThuở ấy lòng tôi thơ thới quá Hồn thơ nguyên vên một trời hương Nhưng nhà nghệ sĩ từ đâu lại Êm ái trao tôi một vết thương Tai ác ngờ đâu gió lại qua Làm kinh giấc mộng những ngày hoa Thổi tan âm điệu du dương trước Và tiển người đi bến cát xa Lại ở vườn Thanh có một mình Tôi yêu gió lạnh lúc tàn canh Yêu trang lặng lẽ rơi trên áo Yêu bóng chim xa nắng lướt mành Và một ngày kia tôi phải yêu Cả chồng tôi nữa lúc đi theo Những cô áo đỏ sang nhà khác Gió hỡi làm sao lạnh rất nhiều Từ đấy không mong không dám hẹn Một lần gặp nữa dưới trăng nghiêm Nhưng tôi vẫn chắc nơi trời lạ Người ấy ghi lòng vẫn nhớ em Ðang múc lòng tôi muốn tạm yên Thì ai đem lại cánh hoa tim Cho tôi ép nốt dòng dư lệ Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên Ðẹp gì một mảnh tình tan vỡ Ðã bọc hoa tàn dấu xác xơ Tóc úa giết dần đời thiếu phụ Thì ai trông ngóng chẳng nên chờ Viết đoạn thơ đầu lo ngại quá Vì tôi vẫn nhớ hẹn ngày xưa "Cố quên đi nhé câm và nín Ðừng thở than bằng những giọng thơ " Tôi run sợ viết lặng im nghe Tiếng lá thu khô xiết mặt hè Tưởng tượng chân người len lén đến Nhưng lòng nào dám hẹn ai về Tuy thế tôi tin vẫn có người Thiết tha đeo đuổi mãi than ôi Biết đâu tôi một tâm hồn héo Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi |
Bài thơ cuối cùngAnh ạ, tháng ngày mau quá nhỉ ! Một mù thu cũ một lòng đau Ba năm ví biết anh còn nhớ Em đã câm lời có nói đâu Ðã lỡ thôi rồi chuyện biệt ly Càng khơi càng thấy lụy từng ly Trách ai đem cánh "ti-gôn" ấy Mà viết tình em được ích gì ? Chỉ có ba người đọc thơ riêng Bài thơ "đan áo " của chồng em Bài thơ đan áo nay rao bán Cho khắp người đời thóc mách xem Là giết đời nhau đấy biết không ? Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung Giận anh tôi viết dòng dư lệ Là chút dư hương điệu cuối cùng Từ nay anh hãy bán thơ anh Và để yên tôi với một mình Những cánh hoa lòng, hừ đã ghét Thì đem mà đổi lấy hư vinh Ngang trái đời hoa đã uá rồi Từng mùa gió lạnh sắc hương rơi Buồng nghiêm thơ thẩn hồn eo hẹp Ði nhớ người, không muốn nhớ lời Tôi oán hờn anh mỗi phút giây Tôi run sợ viết bởi rồi đây Nếu không yên được thì tôi chết Ðêm hỡi, làm sao tối thế nầy , Năm lại, năm qua cứ muốn yên Mà phương trời nhớ chẳng làm quên Và người vỡ lỡ duyên thầm kín Lại chính là anh, anh của em Tôi biết làm sao được hỡi trời ! Giận anh không nỡ nhớ không thôi Mưa buồn mưa hắt trong lòng ướt Sợ quá đi anh, có một người... |
|
Ðan áo cho chồngChị ơi nếu chị đã yêu Ðã từng lỡ hát ít nhiều đau thương Ðã xa hẵn quãng đời hương Ðã đem lòng gởi gió sương mịt mù Biết chăng chị, mỗi mùa Ðông Ðáng thương những kẻ có chồng như em Vẫn còn thấy lạnh trong tim Ðan đi đan lại áo len cho chồng Như con chim hót trong lồng Hạt mưa đã rụng bên sông bơ thờ Lưng trời nổi tiếng tiêu sơ Hay đâu gió đã sang bờ ly tan Tháng ngày miễn cưỡng em đan Kéo dài một chiếc áo len cho chồng Như con chim hót trong lồng Tháng ngày thương tiếc cánh hồng nơi nao Ngoài trời hoa nắng xôn xao Ai đem khóa chết chim vào lồng nghiêm Ai đem lễ giáo giam em Sống hờ trọn kiếp trong duyên trái đời Lòng em buồn lắm chị ơi ! Trong bao ngờ vực với lời mỉa mai Quang cảnh lạ, tháng ngày dài Ðêm đêm nghĩ đến ngày mai giật mình. |
Hai sắc hoa ti-gônMột mùa Thu trước mỗi hoàng hôn Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc Tôi chờ người đến với yêu đương. Người ấy thường hay vuốt tóc tôi Thở dài trong lúc thấy tôi vui Bảo rằng "Hoa giống như tim vỡ, Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi" Thuở ấy nào tôi đã hiểu gì Cánh hoa tan tác của sinh ly Cho nên cười đáp "Màu hoa trắng, Là chút lòng trong chẳng biến suy" Ðâu biết lần đi một lỡ làng Dưới trời gian khổ chết yêu đương Người xa xăm quá tôi buồn lắm Trong một ngày vui pháo nhuộm đường Từ ấy thu rồi thu lại thu Lòng tôi còn giá đến bao giờ Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ Người ấy cho nên vẫn hững hờ Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời Ái ân lạt lẽo của chồng tôi Mà từng thu chết từng thu chết Vẫn giấu trong tim bóng một người Buồn quá hôm nay xem tiểu thuyết Thấy ai cũng ví cánh hoa rơi Nhưng hồng tựa trái tim tan vỡ Và đỏ như màu máu thắm phai Tôi nhớ lời người đã bảo tôi Một mùa thu cũ rất xa xôi Ðến nay tôi hiểu thì tôi đã Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi Tôi sợ chiều thu nắng phớt mờ Chiều thu hoa đỏ rụng chiều thu Gió về lạnh lẽo chân mây vắng Người ấy bên sông đứng ngóng đò Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng Trời ơi ! người ấy có buồn không Có thầm nghĩ đến loài hoa vỡ Tựa trái tim phai tựa máu hồng ? |
Ngày mẹ mất bông cà na rụng trắng
Hoa như mưa nhòe nhoẹt rối tơi bời
Trong nắm đất con phủ lên mộ mẹ
Có rất nhiều những cánh hoa rơi
Hoa cũng như đời mẹ, mẹ ơi
Nở lặng lẽ và rơi lặng lẽ
Cô đơn nào hơn những người mẹ trẻ
Con chưa đủ lớn khôn để chia sẻ vui buồn
Lời ru buồn len lén hoàng hôn
Hai mươi năm sau đời con mới hiểu
Nỗi cô đơn mẹ âm thầm gánh chịu
Nhiều như bông cỏ dại quê mình
Giờ con cười bên những đứa con xinh
Nghe nước mắt chảy vào trong lặng lẽ
Bông cà na vẫn trắng tinh như thế
Nỗi cô đơn vùi xuống đất muôn đời
Ngày mẹ mất bôn g cà na rụng trắng
Hoa như mưa nhòe nhoẹt rối tơi bời
Trong nắm đất con phủ lên mộ mẹ
Có rất nhiều những cánh hoa rơi
Ngắm con thơ con thầm gọi mẹ ơi
Nhìn lên vách con khóc cùng với bóng
Mưa tí tách êm đềm như tiếng xưa
Mẹ bây giờ mới hiểu mẹ ngày xưa.
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.
Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi
Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về
Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương
Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao với
Biết đến bao giờ trông thấy nhau
Đừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ
Đau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ
Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.
Ôi đời mẹ như một vầng trăng khuyết
Vẫn nghìn năm le lói ở đầu sông.